vanban.org

Bản án 26/2017/HS-PT — Hình sự

TAND tỉnh Hòa Bình Tuyên án 27/12/2017 Hình sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 27/12/2017 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận kháng cáo của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án Ngân hàng TMCPVNTV (VP), sửa bản án sơ thẩm về xử lý vật chứng

Cụ thể như sau: Áp dụng Điều 41 Bộ luật Hình sự; Điều 76 Bộ luật tố tụng hình sự: Trả lại cho chủ sở hữu hợp pháp là Công ty cổ phần ô tô và máy công nghiệp KC xe ô tô BKS 29C – 182.48 và 01 sơmi rơmoóc BKS 29R – 005.44 (Có đặc điểm nêu tại biên bản giao nhận vật chứng số: 62/BB ngày 23/8/2017 giữa … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Trung K Vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ - phạm tội vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thô…"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận kháng cáo của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án Ngân hàng TMCPVNTV (VP), sửa bản án sơ thẩm về xử lý vật chứng
  • Căn cứ chính? Điều 248 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 249 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 41 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH HÒA NH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 26/2017/HSPT
Ngày: 27/12/2017

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÒA BÌNH

Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Vận

Các thẩm phán:

Bà Lý Thị Đoàn

Bà Nguyễn Thị Dụ

Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Thành – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Hòa Bình.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hòa Bình tham gia phiên tòa: Ông Quách Hồng Quân - Kiểm sát viên trung cấp.

Ngày 27 tháng 12 năm 2017, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Hòa Bình.

Tòa án nhân dân tỉnh Hòa Bình mở phiên xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 49/2017/HSPT ngày 10 tháng 11 năm 2017 đối với bị cáo Nguyễn Trung K, do có kháng cáo của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án đối với bản án hình sự sơ thẩm số: 106/2017/HSST ngày 28/9/2017 của Tòa án nhân dân thành phố H, tỉnh Hòa Bình.

Bị cáo không kháng cáo: Nguyễn Trung K, sinh ngày 21/10/1983 tại huyện S, thành phố Hà Nội

HKTT: Khối Phố T, phường T, thành phố H, tỉnh Hà Tĩnh

Trú tại: CB, T, thành phố Hà Nội

Nghề nghiệp: Lao động tự do (Lái xe); trình độ văn hóa: 12/12;

Con ông: Nguyễn Văn D, sinh năm 1954 và bà Mai Thị C, sinh năm 1956; bị cáo có vợ là Đỗ Thị B, sinh năm 1987, bị cáo có 01 con sinh năm 2014.

Tiền án, tiền sự: Không;

Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 09/9/2016, có mặt tại phiên tòa.

Những người tham gia tố tụng khác có kháng cáo hoặc có liên quan đến kháng cáo:

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án kháng cáo:

Ngân hàng TMCPVNTV (Gọi tắt là VP); Người đại diện theo pháp luật ông Ngô Chí D Chủ tịch HĐQT của Ngân hàng VP; người đại diện theo ủy quyền ông Nguyễn Mạnh Q, chức vụ: Cán bộ xử lý nợ (theo văn bản ủy quyền số: 1313/2017/UQ-VPB ngày 28/8/2017 của VP)

Địa chỉ: N, TX, thành phố Hà Nội. Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố H và bản án hình sự sơ thẩm của Tòa án nhân dân thành phố H thì vụ án có nội dung như sau: Ngày 08/9/2016, xe ô tô khách BKS 26B – 003.76 của Công ty cổ phần thương mại du lịch A do lái xe Hà Văn N điều khiển chạy trên Quốc lộ 6, hướng Hà Nội đi Sơn La. Đến khoảng 14 giờ cùng ngày, khi đi đến Km số 78+200m thuộc tổ 09, phường C, thành phố H, tỉnh Hòa Bình thì xảy ra va chạm với xe ô tô bán tải BKS 28C – 025.47 do anh Nguyễn Bình D điều khiển chạy ngược chiều. Hai lái xe đã dừng xe để tranh cãi trái phải. Do vậy một số ô tô khác đã phải dừng xe, không lưu thông được.

Lúc này, Nguyễn Trung K điều khiển xe ô tô đầu khéo BKS 29C – 182.48 kéo theo sơ mirơmooc BKS 29R – 00544 chở hàng ngô hạt đi từ dốc Cun xuống theo hướng Sơn La đi Hà Nội. Khi vào ngã ba chân dốc Cun đường Quốc lộ 6, cách vị trí của xe ô tô BKS 26B – 003.76 khoảng 90m thì K phát hiện hai xe ô tô dừng đỗ song song hai bên đường (hai chiếc xe đã va chạm trước đó), nên đạp phanh để giảm tốc độ nhưng không được (Do xe đã ở đoạn cuối của con dốc dài, các má phanh bị tăng nhiệt do phanh hãm liên tục, kéo dài, trong khi tốc độ của xe quá lớn, lại đang chở hàng nặng). Thấy vậy, K điều khiển ô tô đi lấn sang phần đường bên trái chiều đi của mình, cho xe cà trượt vào tường phòng vệ để tìm cách dừng xe, nhưng xe không dừng lại được, đã đâm vào xe ô tô BKS 26B – 003.76 ( Xe của Công ty A đang đỗ ngược chiều) làm xe này bị xô về phía sau và va chạm mạnh vào đầu xe ô tô đầu kéo BKS 28LD – 0021 của Công ty TNHH P đang dừng đỗ phía sau, làm cả ba xe ô tô bị đẩy trượt qua tường phòng vệ mềm xuống taluy âm phía bên trái hướng Sơn La – Hà Nội. Vụ va chạm đã làm 05 hành khách đi trên xe 26B – 003.76 của Công ty A bị thương (trong số đó có bà Nguyễn Thị T đã tử vong. Những người bị hại Nguyễn Chất H, Nguyễn Đình V, Hà Minh H, Đặng Ánh N được đưa đi cấp cứu và điều trị tại bệnh viện). Xe ô tô của Công ty A và xe ô tô của Công ty P bị hư hỏng nặng)

Kết luận pháp y số: 170/GĐPY ngày 14/9/2016 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Hòa Bình kết luận: Nạn nhân Nguyễn Thị T chết do chấn thương sọ não

Kết luận pháp y của Trung tâm pháp y tỉnh Hòa Bình kết luận thương tích của các bị hại khác như sau:

Anh Nguyễn Đình V bị tổn hại 37% sức khỏe so với trước khi bị nạn;

Anh Nguyễn Chất H bị tổn hại 75% sức khỏe so với trước khi bị nạn;

Chị Hà Minh H bị tổn hại 09% sức khỏe so với trước khi bị nạn;

Chị Đặng Ánh N bị tổn hại 29% sức khỏe so với trước khi bị nạn.

Kết luận giám định phương tiện giao thông bị tai nạn của Viện khoa học hình sự Bộ công an kết luận như sau:

+ Xe ô tô đầu kéo BKS 29C – 182.48 hệ thống phanh tại thời điểm xảy ra tai nạn có các má phanh của cơ cấu phanh bên phải trục hai bị mài mòn đến đinh tán, không đảm bảo an toàn kỹ thuật. Không đủ điều kiện để xác định tại thời điểm xảy ra tai nạn xe ô tô sử dụng tần số nào, các lốp xe bị mòn hoa lốp, quá cẩu chỉ giới hạn độ mòn cho phép, mặt lăn bong tróc, không đảm bảo an toàn kỹ thuật. Xe sơmirơmooc 29R – 005.44 hệ thống phanh tại thời điểm xảy ra tai nạn, có các cơ cấu phanh bị quá nhiệt do phanh liên tục làm giảm ma sát của các má phanh và tang trống, dẫn đến giảm hiệu lực của phanh xe, các lốp xe bị mòn hoa lốp, quá cẩu chỉ giới hạn độ mòn cho phép, mặt lăn bị bong tróc không đảm bảo an toàn kỹ thuật”

Kết luận định giá tài sản trong tố tụng hình sự kết luận như sau:

+ Xe ô tô BKS 26B – 003.76 của Công ty A sau tai nạn bị hư hỏng toàn bộ, dẫn đến thiệt hại 1.055.700.000 đồng (một tỷ không trăm năm mươi lăm triệu, bảy trăm ngàn đồng)

+ Xe ô tô BKS 28LD – 0021 kéo theo sơmirơmooc BKS 28R – 0007 của Công ty P tai nạn bị hư hỏng, dẫn đến thiệt hại 468.487.000 đồng ( bốn trăn sáu mươi tám triệu, bốn trăm tám mươi bảy ngàn đồng)

+ Thiệt hại của Chi cục quản lý đường bộ I.1 do phải chi phí sửa chữa tường phòng vệ do vụ tai nạn gây ra là 19.569.000 đồng (Mười chín triệu, năm trăm sáu mươi chín ngàn đồng)

Sơ đồ hiện trường, biên bản khám nghiệm hiện trường, biên bản thực nghiệm điều tra, biên bản khám nghiệm phương tiện, kết luận giám định và các tài liệu điều tra thu thập được cho thấy nguyên nhân vụ tai nạn do Nguyễn Trung K điều khiển xe ô tô BKS 29C – 182.48 kéo theo sơmirơmooc 29R – 005.44 không làm chủ tốc độ, đã đi lấn sang phần đường bên trái chiều đi của mình (phần đường dành cho người và phương tiện ngược chiều), vi phạm Điều 9 và Điều 12 Luật giao thông đường bộ.

Sau khi tai nạn xảy ra, Nguyễn Trung K đã đến cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Hòa Bình đầu thú và đã tự giác bồi thường thiệt hại cho gia đình bà Tuyết và những người bị hại bị thương tích (những người bị hại không yêu cầu bồi thường thêm)

Tại bản án hình sự sơ thẩm số: 106/2017/HSST ngày 28/9/2017 của Tòa án nhân dân thành phố H đã xét xử:

1/ Tuyên bố Nguyễn Trung K phạm tội “Vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ”

2/ Áp dụng khoản 3 Điều 202; các điểm b, p khoản 1 và khoản 2 Điều 46; Điều 47 của Bộ luật hình sự, xử phạt Nguyễn Trung K 48 (bốn mươi tám) tháng tù giam. Thời hạn tù tính từ ngày 09/9/2016

3/ Áp dụng Điều 42 Bộ luật hình sự; Điều 584, 589 Bộ luật dân sự, giải quyết về trách nhiệm dân sự như sau:

3.1. Buộc bị cáo Nguyễn Trung K và Công ty cổ phần ô tô và máy công nghiệp KC phải liên đới bồi thường như sau:

+ Bồi thường cho Công ty TNHH một thành viên Bảo hiểm Ngân hàng TMCP CT Việt Nam số tiền 1.005.700.000 đồng (Một tỉ không trăm linh năm triệu, bảy trăm ngàn đồng). Trong đó Công ty KC phải bồi thường 300.000.000 đồng (Ba trăm triệu đồng); bị cáo Nguyễn Trung K phải bồi thường 705.700.000 đồng (bảy trăm linh năm triệu, bảy trăm ngàn đồng).

+ Bồi thường cho Công ty TNHH P số tiền 468.487.000 đồng (Bốn trăm sáu mươi tám triệu, bốn trăm tám mươi bảy ngàn đồng); được đối trừ số tiền 30.000.000 đồng đã đưa trước, nay phải bồi thường nốt 438.487.000 đồng. Trong đó Nguyễn Trung K phải bồi thường 300.000.000 đồng (ba trăm triệu đồng); Công ty KC phải bồi thường 138.487.000 đồng

3.2. Buộc Công ty cổ phần ô tô và máy công nghiệp KC phải bồi thường như sau:

+ Bồi thường cho Chi cục quản lý đường bộ I.1 số tiền 19.596.000 đồng (Mười chin triệu năm trăm chín mươi sau ngàn đồng)

+ Thanh toán cho Trung tâm cứu hộ ô tô BV thành phố H 68.000.000 đồng; đối trừ 15.000.000 đồng Công ty đã thanh toán tại phiên tòa sơ thẩm, nay phải trả nốt 53.000.000 đồng (Năm mươi ba triệu đồng).

Kể từ ngày án có hiệu lực và có đơn yêu cầu của người được thi hành án, nếu không thi hành án như đã tuyên, thì Công ty cổ phần ô tô và máy công nghiệp KC và bị cáo Nguyễn Trung K phải chịu lãi xuất theo quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự, tương ứng số tiền và thời gian chậm trả.

4/ Áp dụng Điều 41 Bộ luật hình sự; Điều 76 Bộ luật Tố tụng hình sự, tuyên xử lý tang vật như sau:

4.1. Trích từ số tiền 50.000.000 đồng (Năm mươi triệu đồng) mà Nguyễn Bình D tự nguyện nộp để hỗ trợ bồi thường thiệt hại (đang được lưu giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố H, theo biên lai thu tiền số 00415 ngày 06/7/2017) để trả cho các chủ thể sau:

+ Trả cho Công ty Cổ phần thương mại và du lịch A 19.700.000 đồng (Mười chín triệu bảy trăm ngàn đồng)

+ Trả cho Công ty TNHH Một thành viên Bảo hiểm Ngân hàng TMCP CT Việt Nam 30.300.000 đồng (Ba mươi triệu ba trăm ngàn đồng)

4.2. Trả lại cho Nguyễn Trung K 01 giấy phép lái xe số 270147014396 do Sở giao thông vận tải tỉnh Bắc Ninh cấp ngày 22/10/2014 mang tên Nguyễn Trung K (đang lưu giữ trong hồ sơ vụ án)

4.3. Bảo thủ xe ô tô nhãn hiệu COUNTYHM, BKS 26B – 003.76 đang do Chi cục Thi hành án dân sự thành phố H quản lý.

- Giao lại cho Công an thành phố H xe ô tô BKS 29C – 182.48 kèm theo sơmirơmooc BKS 29R – 005.44 để giải quyết theo thẩm quyền.

Tài sản nêu tại mục 4.3 này được thể hiện tại Biên bản giao nhận vật chứng số: 62/BB, lập ngày 23/8/2017 với Công an thành phố H.

Ngoài ra bản án sơ thẩm còn tuyên về án phí và quyền kháng cáo

Ngày 05/10/2017 người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Ngân hàng TMCPVNTV kháng cáo phần quyết định về xử lý tang vật của bản án sơ thẩm, với nội dung: “Đề nghị Tòa án nhân dân tỉnh Hòa Bình sửa bản án sơ thẩm, giải quyết bàn giao 01 xe ô tô đầu kéo BKS 29C – 182.48 và 01 chiếc Sơmi Rơ Móoc BKS 29R – 005.44 để Ngân hàng TMCPVNTV thu hồi nợ”

Tại phiên Tòa phúc thẩm người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án kháng cáo, giữ nguyên kháng cáo.

Trình bày quan điểm về việc giải quyết vụ án, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hòa Bình giữ quyền công tố tại phiên tòa, đề nghị HĐXX phúc thẩm xét xử xem xét: Về thời hạn kháng cáo và thủ tục thực hiện quyền kháng cáo của Ngân hàng TMCPVNTV đã được thực hiện trong thời hạn và đúng hình thức theo quy định; Quyết định của bản án sơ thẩm về xử lý vật chứng giao cho Công an thành phố H xe ô tô BKS 29C – 182.48 kèm theo sơmi rơmoóc BKS 29R – 005.44 để giải quyết theo thẩm quyền. Là chưa phù hợp với các quy định của pháp luật về xử lý vật chứng. Đề nghị Hội đồng xét xử sửa bản án sơ thẩm, trả lại xe ô tô và sơmi rơmoóc nêu trên cho chủ sở hữu hợp pháp là Công ty Cổ phần ô tô và máy công nghiệp KC do không liên quan gì đến trách nhiệm bồi thường dân sự trong vụ án. Tuy nhiên các tài sản này đang được thế chấp tại Ngân hàng TMCPVNTV nên cần giao cho Ngân hàng quản lý và xử lý theo hợp đồng thế chấp và thỏa thuận giữa các bên.

Bị cáo Nguyễn Trung K trình bày tại phiên tòa: Bị cáo cảm ơn Hội đồng xét xử đã xem xét và xét xử lại, đề nghị Hội đồng xét xử giao tài sản là xe ô tô và sơmi rơmoóc cho Ngân hàng VP để Ngân hàng thực hiện thu hồi nợ. Khoản nợ của bị cáo đối với Ngân hàng đã quá lâu và ảnh hưởng đến quyền lợi của Ngân hàng.

Căn cứ vào các tài liệu chứng cứ đã được thẩm tra tại phiên tòa phúc thẩm; Căn cứ vào kết quả tranh luân tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ toàn diện tài liệu, chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa sơ thẩm, phiên tòa phúc thẩm, các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, lời trình bày của bị cáo; người đại diện theo ủy quyền của Ngân hàng TMCPVNTV. HĐXX phúc thẩm xét nội dung kháng cáo:

Công ty Cổ phần ô tô và máy công nghiệp KC là chủ sở hữu các tài sản là xe ô tô BKS 29C – 182.48 và 01 sơmi rơmoóc BKS 29R – 005.44 đã được phòng cảnh sát giao thông Công an thành phố Hà Nội cấp giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô số đăng ký xe: 072960 và 01 sơmi rơmoóc số đăng ký: 004973.

Tuy nhiên Công ty Cổ phần ô tô và máy công nghiệp KC đã sử dụng các tài sản nêu trên thế chấp cho bên nhận thế chấp là Ngân hàng TMCPVNTV chi nhánh NQ, nội dung quyền, nghĩa vụ của các bên thể hiện tại hợp đồng thế chấp số: 140516 – 368478 – 01- SME/TC ngày 18/5/2016. Để thế chấp bảo đảm cho toàn bộ nghĩa vụ theo hợp đồng tín dụng giữa Công ty Cổ phần ô tô và máy công nghiệp KC và Ngân hàng TMCPVNTV chi nhánh NQ, theo hợp đồng số:140516 – 368418- 01 – SME.

Đồng thời Công ty Cổ phần ô tô và máy công nghiệp KC cũng giao kết hợp đồng dịch vụ bảo quản tài sản số: 140516 – 368418 – 01 – SME/HDGG ngày 18/5/2016 với Ngân hàng TMCPVNTV chi nhánh NQ, theo nội dung trong hợp đồng thì các giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô nêu trên của Công ty Cổ phần ô tô và máy công nghiệp KC sẽ được Ngân hàng TMCPVNTV chi nhánh NQ bảo quản.

Như vậy các vật chứng của vụ án là xe ô tô BKS 29C – 182.48 và 01 sơmi rơmoóc BKS 29R – 005.44 và toàn bộ 02 giấy đăng ký sở hữu bản gốc của các tài sản nêu trên, là tài sản của Công ty Cổ phần ô tô và máy công nghiệp KC nhưng đang được thế chấp tại Ngân hàng TMCPVNTV chi nhánh NQ.

Theo các điều khoản và nội dung thỏa thuận giữa Công ty Cổ phần ô tô và máy công nghiệp KC và Ngân hàng TMCPVNTV tại hợp đồng thế chấp số: 140516 – 368478 – 01- SME/TC ngày 18/5/2016, tại điểm d, khoản 1 Điều 7 thỏa thuận về các trường hợp xử lý tài sản thế chấp: “…Xẩy ra các sự kiện mà bên Ngân hàng đơn phương đánh giá là gây ảnh hưởng hoặc có khả năng gây ảnh hưởng đến tài sản thế chấp, bao gồm nhưng không giới hạn bởi các trường hợp như: Tài sản thế chấp bị hư hỏng, giảm sút giá trị, bị tranh chấp bởi bên thứ ba…vv….”

Do đó khi xem xét xử lý vật chứng là xe ô tô và sơmi rơmoóc nêu trên. Cần căn cứ các quy định tại Điều 41 Bộ luật Hình sự và Điều 76 Bộ luật Tố tụng Hình sự, tuyên trả lại cho chủ sở hữu hợp pháp là Công ty Cổ phần ô tô và máy công nghiệp KC.

Nhưng cần giao lại cho Ngân hàng TMCPVNTV thông qua chi nhánh NQ (đơn vị giao kết hợp đồng thế chấp với Công ty KC) để quản lý và xử lý theo thỏa thuận của các bên trong hợp đồng thế chấp theo quy định của pháp luật.

Hội đồng xét xử phúc thẩm xét thấy quyết định của bản án sơ thẩm về xử lý vật chứng đối với 01 xe ô tô BKS 29C – 182.48 và 01 sơmi rơmoóc BKS 29R – 005.44 là chưa phù hợp với các quy định của pháp luật. Có căn cứ để chấp nhận kháng cáo của Ngân hàng TMCPVNTV và cần sửa bản án sơ thẩm liên quan đến phần quyết định xử lý vật chứng nêu trên cho đúng với quy định của pháp luật.

Về án phí hình sự phúc thẩm: Ngân hàng TMCPVNTV không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm

Các quyết định khác của bản án sơ thẩm số: 106/2017/HSST ngày 28/9/2017 của Tòa án nhân dân thành phố H, tỉnh Hòa Bình không bị kháng cáo, kháng nghi có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Vì các lẽ trên.

Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 248, điểm d khoản 1 Điều 249 của Bộ luật tố tụng hình sự.

QUYẾT ĐỊNH

1. Chấp nhận kháng cáo của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án Ngân hàng TMCPVNTV (VP), sửa bản án sơ thẩm về xử lý vật chứng

Cụ thể như sau: Áp dụng Điều 41 Bộ luật Hình sự; Điều 76 Bộ luật tố tụng hình sự: Trả lại cho chủ sở hữu hợp pháp là Công ty cổ phần ô tô và máy công nghiệp KC xe ô tô BKS 29C – 182.48 và 01 sơmi rơmoóc BKS 29R – 005.44 (Có đặc điểm nêu tại biên bản giao nhận vật chứng số: 62/BB ngày 23/8/2017 giữa Chi cục Thi hành án dân sự thành phố H và Công an thành phố H). Giao lại cho Ngân hàng TMCPVNTV chi nhánh NQ quản lý các tài sản nêu trên để thực hiện thỏa thuận của các bên trong hợp đồng thế chấp.

2. Về án phí: Ngân hàng TMCPVNTV không phải nộp án phí hình sự phúc thẩm

3. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án, ngày 27/12/2017.

Cỡ chữ