vanban.org

Bản án 26/2017/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn do một bên ở nước ngoài

TAND tỉnh Đồng Tháp Tuyên án 30/06/2017 Hôn nhân và gia đình Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về hôn nhân: Chị Nguyễn Ngọc H được ly hôn với anh HAO.

Về con chung: Chị Nguyễn Ngọc H được tiếp tục nuôi dưỡng 02 con chung tên Ngô Hồng M, sinh ngày 05/02/2012 và Ngô Ngọc N, sinh ngày 09/01/2014. Anh HAO không phải cấp dưỡng nuôi con do chị H không có yêu cầu. Anh HAO được quyền đến thăm nom, chăm sóc và giáo dục con chung, không ai được quyền ngăn c…

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn do một bên ở nước ngoài — án hôn nhân và gia đình — "Tranh chấp xin ly hôn"
  • Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Chị Nguyễn Ngọc H được ly hôn với anh HAO.
  • Căn cứ chính? Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH ĐỒNG THÁP

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 26/2017/HNGĐ-ST
Ngày: 30/6/2017.
V/v tranh chấp xin ly hôn.

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG THÁP

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán-Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Huỳnh Thị Hương Thủy

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Trần Ngọc Đằng

Ông Nguyễn Văn Đằng

- Thư ký phiên toà: Bà Huỳnh Thị Diễm Hương – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp.

Trong ngày 30 tháng 6 năm 2017 tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Đồng Tháp xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số thụ lý số: 20/2017/TLST-HNGĐ ngày 05 tháng 5 năm 2017 về tranh chấp xin ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 29/2017/QĐXX-HNGĐ ngày 12/6/2017, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Nguyễn Ngọc H, sinh năm 1988;

Địa chỉ: Tổ 25, ấp 3, xã T, huyện C, tỉnh Đồng Tháp.

- Bị đơn: Anh HAO, sinh năm 1974;

Địa chỉ: Trung Quốc.

(Chị H có mặt, anh HAO có đơn xin xét xử vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn xin ly hôn ngày 10 tháng 4 năm 2017 và các lời khai tại Toà án nhân dân tỉnh Đồng Tháp nguyên đơn chị Nguyễn Ngọc H trình bày: Vào năm 2010, chị và anh HAO quen biết nhau đến giữa năm 2011 thì có tổ chức đám cưới và đăng ký kết hôn tại UBND tỉnh Đồng Tháp vào ngày 17/02/2012. Sau khi kết hôn, chị sống tại Việt Nam, anh HAO về Trung Quốc sinh sống nhưng vợ chồng cũng thường xuyên qua lại chăm sóc nhau. Đến năm 2015 thì vợ chồng phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do bất đồng quan điểm trong cuộc sống, anh HAO nhậu nhẹt, không quan tâm chăm sóc cho gia đình, mâu thuẫn ngày càng trầm trọng nên vợ chồng đã ly thân nhau từ tháng 8/2016 cho đến nay. Nay do tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị yêu cầu được ly hôn với anh HAO; Về con chung: có 02 con chung tên Ngô Hồng M, sinh ngày 05/02/2012 và Ngô Ngọc N, sinh ngày 09/01/2014. Hiện con chung đang sống với chị H. Khi ly hôn chị yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng 02 con chung, không yêu cầu anh HAO cấp dưỡng nuôi con; Về tài sản chung: không có nên không yêu cầu Toà án xem xét giải quyết. Trong quá trình sống chung vợ chồng không nợ ai và không cho ai nợ.

Phía bị đơn anh HAO ngày 05/5/2017 có văn bản ý kiến: Về hôn nhân: Anh đồng ý ly hôn theo yêu cầu của chị Nguyễn Ngọc H; Về con chung: có 02 con chung tên Ngô Hồng M, sinh ngày 05/02/2012 và Ngô Ngọc N, sinh ngày 09/01/2014. Hiện con chung đang sống với chị H. Nay ly hôn anh đồng ý để cho chị H tiếp tục nuôi dưỡng con chung, anh không cấp dưỡng nuôi con; về tài sản chung và nợ: không có.

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

1. Về tố tụng: Việc tranh chấp xin ly hôn giữa nguyên đơn là chị Nguyễn Ngọc H, địa chỉ: Tổ 25, ấp 3, xã T, huyện C, tỉnh Đồng Tháp và bị đơn là anh HAO, địa chỉ: Trung Quốc. Căn cứ vào khoản 1, Điều 26; khoản 1 Điều 37 Bộ luật tố tụng dân sự thì thẩm quyền giải quyết thuộc Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp. Đối với bị đơn có đơn xin xét xử vắng mặt. Căn cứ vào khoản 1, Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, Toà án tiến hành xét xử vắng mặt đối với bị đơn.

2. Về nội dung: Chị Nguyễn Ngọc H và anh HAO kết hôn với nhau vào năm 2012 và có đăng ký kết hôn. Trong cuộc sống vợ chồng không xây dựng được hạnh phúc, sau khi cưới thì anh HAO về Trung Quốc sinh sống nhưng vẫn thường xuyên qua lại để chăm sóc nhau. Đến năm 2015 thì vợ chồng phát sinh mâu thuẫn do anh HAO thường xuyên nhậu nhẹt, không quan tâm đến nhau. Mâu thuẫn ngày càng trầm trọng nên vợ chồng đã ly thân nhau từ tháng 8 năm 2016 cho đến nay. Xét thấy mâu thuẫn của anh chị ngày càng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Đối với anh HAO có đơn xin xét xử vắng mặt và cũng đồng ý ly hôn theo yêu cầu của chị H. Do đó, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt đối với anh HAO và chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Nguyễn Ngọc H đối với anh HAO.

- Về con chung: có 02 con chung Ngô Hồng M, sinh ngày 05/02/2012 và Ngô Ngọc N, sinh ngày 09/01/2014, hiện nay con chung đang sống với chị H. Nay ly hôn chị yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng, không yêu cầu anh HAO cấp dưỡng nuôi con. Anh HAO cũng đồng ý cho chị H tiếp tục nuôi 02 con chung. Xét thấy đây là sự tự nguyện và phù hợp với quy định pháp luật nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Anh HAO được quyền đến thăm nom, chăm sóc và giáo dục con chung, không ai được quyền ngăn cản.

Về tài sản chung và nợ: Không có.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào Điều 51, 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình;

Căn cứ vào Điều 147, Điều 227, Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự;

Căn cứ vào Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.

- Về hôn nhân: Chị Nguyễn Ngọc H được ly hôn với anh HAO.

- Về con chung: Chị Nguyễn Ngọc H được tiếp tục nuôi dưỡng 02 con chung tên Ngô Hồng M, sinh ngày 05/02/2012 và Ngô Ngọc N, sinh ngày 09/01/2014. Anh HAO không phải cấp dưỡng nuôi con do chị H không có yêu cầu.

Anh HAO được quyền đến thăm nom, chăm sóc và giáo dục con chung, không ai được quyền ngăn cản.

- Tài sản chung và nợ: Không có.

- Về án phí: Chị Nguyễn Ngọc H phải nộp 300.000 đồng tiền án phí ly hôn được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí mà chị H đã nộp theo biên lai số 06666 ngày 04 tháng 5 năm 2017 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Đồng Tháp.

Nguyên đơn được quyền làm đơn kháng cáo lên Toà án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Riêng bị đơn vắng mặt được quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 01 tháng kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ