- Tranh chấp gì? "Trịnh Văn Đông - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 54 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| Toµ ¸n nh©n d©n quËn hoµng mai thµnh phè hµ néi | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| B¶n ¸n sè: 259/2019/HSST Ngµy: 27/8/2019 |
nh©n danh
n íc céng hoµ x· héi chñ nghÜa viÖt nam
Toµ ¸n nh©n d©n quËn hoµng mai Hoµng Mai
Thành phÇn héi ®ång xÐt xö s¬ thÈm gåm cã:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Mạnh Tiến
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Nguyễn Việt Anh
2. Bà Nguyễn Thị Lan
Thư ký ghi biên bản phiên tòa: Ông Đỗ Duy Trung- Thư ký Tòa án nhân dân quận Hoàng Mai
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Hoàng Mai tham gia phiên tòa: Bà Đỗ Thị Hương- Kiểm sát viên
Ngày 27 tháng 8 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Hoàng Mai, Hà Nội xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 286/2019/TLST-HS ngày 09 tháng 8 năm 2019 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 275/2019/QĐXXST- HS ngày 15 tháng 8 năm 2019 đối với bị cáo: Trịnh Văn Đ- Sinh năm 1993 tại Ninh Bình; ĐKHKTT: Xóm 14, xã Hùng Tiến, Kim Sơn, Ninh Bình; Chỗ ở: Không cố định; Trình độ văn hóa: 7/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Con ông: Trịnh Văn Đài và bà Vũ Thị Ngọ (đã chết); Bị cáo chưa có vợ, con; Tiền án, tiền sự: Chưa. Bị bắt quả tang ngày 4/5/2019, hiện đang tạm giam tại trại tạm giam số 2 Công an thành phố Hà Nội.
Bị hại : Công ty TNHH một thành viên SDC S
Địa chỉ: Số nhà 12, ngõ 29, đường K, phường T, quận X, Hà Nội.
Người đại diện theo pháp luật ông Vũ Mai H- Giám đốc, ủy quyền cho anh Ngô Văn Tự- SN 1989
HKTT: Xã T, huyện H, tỉnh Thanh Hóa.
Vắng mặt.
Néi dung vô ¸n:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 02 giờ 30 ngày 04/5/2019, Đ lang thang đến khu vực đất trống thuộc tổ 10, Thịnh Liệt, Hoàng Mai, Hà Nội, là công trường thi công của Công ty TNHH một thành viên SDC S; mục đích xem có tài sản sơ hở thì trộm cắp. Đ đi vào công trường, thấy 03 chiếc chốt khóa ống nối bê tông bằng kim loại, đường kính khoảng 20cm không có người trông giữ. Đ ôm số chốt khóa định tẩu thoát khỏi khu vực trên. Sau khi trộm cắp khoảng 10’ thì Đ nghe có tiếng hô hoán và có người đuổi theo mình nên Đ đã vứt lại tài sản và bỏ chạy. Đchạy được khoảng 50m thì bị anh Vũ Bá Huy (SN 1975; HKTT tại xã V, huyện L, Thanh Hóa) và anh Trần Xuân M (SN 1990; HKTT tại Hạnh Lâm, Thanh Chương, Nghệ An) bắt giữ giao nộp cho công an phường Thịnh Liệt. Cơ quan công an đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang và thu giữ vật chứng.
Theo Bản kết luận định giá tài sản số 77 ngày 16/05/2019 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự quận Hoàng Mai: 03 ống nối bê tông đều bằng kim loại hình tròn, kích thước đường kính đều khoảng 20cm, một đầu có chốt, đã qua sử dụng, có giá trị là 1.100.000 đồng/01 chiếc. Tổng cộng 3 chiếc là 3.300.000 đồng.
Ngày 18/05/2019, Cơ quan Công an đã trả lại tài sản cho anh H. Hiện anh H là người đại diện Công ty TNHH một thành viên SDC S. Bị hại đã nhận lại tài sản và không yêu cầu bồi thường dân sự.
T¹i c¸o tr¹ng sè 274/CT- VKS ngµy 07/8/2019 ViÖn kiểm sát nhân dân quận Hoàng Mai, Hà Nội truy tố Trịnh Văn Đ về tội “Trộm cắp tài sản” qui định tại khoản 1 Điều 173 - Bộ luật hình sự.
Đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa, sau khi phân tích tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo Trịnh Văn Đ giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo.
Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1 Điều 51, Điều 38, 54 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo từ 4 tháng tù đến 6 tháng tù.
Về phần bồi thường dân sự, bị hại đã nhận lại tài sản, không yêu cầu gì nên không xem xét. Miễn áp dụng hình phạt bổ sung bằng tiền đối với bị cáo.
Tại phiên tòa bị cáo thừa nhận bản cáo trạng Viện kiểm sát truy tố hoàn toàn đúng với hành vi của bị cáo đã thực hiện. Bị cáo không có ý kiến thắc mắc gì về trị giá tài sản chiếm đoạt.
Lời nói sau cùng: Bị cáo đề nghị hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra Công an quận Hoàng Mai, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân quận Hoàng Mai, kiểm sát viên trong quá trình điều tra truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đều hợp pháp.
Về hành vi phạm tội của bị cáo, đủ cơ sở kết luận: Hồi 2h30’ ngày 4/5/2019, tại công trường thuộc tổ 10, phường T, quận H, Hà Nội, Trịnh Văn Đ đã lén lút chiếm đoạt 03 chốt khóa ống nối bê tông bằng kim loại. Tổng giá trị tài sản bị cáo chiếm đoạt của Công ty là 3.300.000 đồng. Hành vi của bị cáo đã cấu thành tội trộm cắp tài sản, Viện kiểm sát nhân dân quận Hoàng Mai truy tố bị cáo Trịnh Văn Đ theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật.
Xét về nhân thân bị cáo các tình tiết tăng nặng giảm nhẹ và tính chất mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội: Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm không chỉ gây mất trật tự trị an xã hội mà còn xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản hợp pháp của tổ chức được pháp luật bảo vệ. Vì vậy, cần phải xử lý bị cáo bằng pháp luật hình sự.
Khi lượng hình, Hội đồng xét xử cũng xem xét: Tại phiên tòa và tại cơ quan điều tra bị cáo khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải, bị cáo phạm tội lần đầu, thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, tài sản trị giá không lớn đã thu hồi trả lại ngay cho bị hại; nên bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm h, i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ, thời gian giam giữ bị cáo đã đủ tác dụng giáo dục cải tạo bị cáo và răn đe phòng ngừa chung nên Hội đồng xét xử căn cứ khoản 3 Điều 54 Bộ luật hình sự, cho bị cáo hưởng mức án dưới mức thấp nhất của khung hình phạt.
Về hình phạt bổ sung: Bị cáo là người không có nghề nghiệp ổn định nên miễn hình phạt bổ sung bằng tiền đối với bị cáo.
Về trách nhiệm dân sự: Bị hại đã nhận lại tài sản và không yêu cầu về dân sự nên không xem xét giải quyết.
Về án phí và quyền kháng cáo: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm. Bị cáo và bị hại và có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên.
quyÕt ®Þnh
Tuyên bố: Trịnh Văn Đ phạm tội Trộm cắp tài sản.
Căn cứ khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự: điểm h, i, s khoản 1 Điều 51, Điều 38, Điều 54 Bộ luật hình sự.
Căn cứ Điều 136, 328, Điều 331, Điều 333 - Bộ luật tố tụng hình sự; Điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; Khoản 1mục I phần A danh mục án phí, lệ phí Tòa án ban hành kèm theo Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14.
* Xử phạt: Bị cáo Trịnh Văn Đ 03 (ba) tháng 23 (Hai mươi ba) ngày tù về tội Trộm cắp tài sản. Thời hạn tù tính từ ngày bắt quả tang 4/5/2019 đến ngày tuyên án 27/8/2019. Xác nhận bị cáo đã chấp hành xong hình phạt.
Trả tự do ngay cho bị cáo tại phiên tòa nếu không bị tạm giữ, tạm giam về hành vi phạm tội khác.
*Về án phí và quyền kháng cáo:
Bị cáo phải nộp 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm và có quyền kháng cáo trong hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án.
Bị hại có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án.
T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
Thẩm phán- Chủ toạ phiên toà
| Nơi nhận: - Người tham gia tố tụng; - VKSND Q Hoàng Mai- TP Hà Nội; - Công an Q Hoàng Mai- TP Hà Nội; - Ủỷ ban nhân dân nơi bị cáo cư trú; - Lưu VP, Hồ sơ vụ án. Héi ®ång xÐt xö C¸c héi thÈm nh©n d©n | Nguyễn Mạnh Tiến ThÈm ph¸n- Chñ to¹ phiªn toµ |