vanban.org

Bản án 259/2022/HSST — Hình sự

TAND TP. Phan Thiết, tỉnh Bình Thuận Tuyên án 30/12/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Áp dụng: điểm a, i khoản 1, điểm đ khoản 2 Điều 134, điểm b, s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự, Điều 584, Điều 585, Điều 590 Bộ luật Dân sự.

Tuyên bố: Bị cáo Hồng Tuấn C phạm tội “Cố ý gây thương tích”. Xử phạt: Bị cáo Hồng Tuấn C 30 tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích”, thời hạn tù tính từ ngày bắt giam để thi hành án. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "HỒNG TUẤN CẢNH - phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác (điều 134 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của…"
  • Tòa quyết gì? Áp dụng: điểm a, i khoản 1, điểm đ khoản 2 Điều 134, điểm b, s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự, Điều 584, Điều 585, Điều 590 Bộ luật Dân sự.
  • Căn cứ chính? Điều 134 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ PHAN THIẾT
TỈNH BÌNH THUẬN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

----------
Bản án số: 259/2022/HSST
Ngày: 30/12/2022

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHAN THIẾT

TỈNH BÌNH THUẬN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Đỗ Thị Yến Linh

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Lưu Thị Thôi

2. Bà Trần Thị Thanh Nga

- Thư ký phiên tòa: Bà Ngô Thái Hà - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Phan Thiết, tỉnh Bình Thuận.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố P, tỉnh B tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thương - Kiểm sát viên.

Ngày 30 tháng 12 năm 2022 tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố P, tỉnh B xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 254/2022/TLST-HS ngày 30 tháng 11 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 302/2022/QĐXXST-HS ngày 15 tháng 12 năm 2022 đối với bị cáo:

Hồng Tuấn C (tên gọi khác: Lùn) - Sinh năm: 1998 tại B. Nơi ĐKHKTT và chỗ ở: Khu phố P, thị trấn L, huyện HTB, tỉnh B. Dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 06/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do. Con ông: Hồng Văn M1 (đã chết); Con bà: Trần Thị Lệ M2, Sinh năm: 1963; Nơi ĐKHKTT và chỗ ở: Khu phố Phú Xuân, thị trấn L, huyện HTB, tỉnh B.

Tiền án: Ngày 24/7/2020, TAND huyện HTB xử phạt 18 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” tại Bản án số 52/2020/HSST, chấp hành xong hình phạt tù ngày 30/3/2021.

Tiền sự: không;

Nhân thân: không;

Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú”.

Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

Người bị hại:

Ông Nguyễn Đức H, sinh năm 1994. Trú tại: Thôn Văn Kê, xã Tân Thành, huyện H, tỉnh B (có mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 16 giờ 20 phút ngày 18/5/2022, Hồng Tuấn C nghi ngờ Nguyễn Đức H có quan hệ tình cảm với U (là người yêu của C) và C biết được Nguyễn Đức H đang ở phòng 303 của Khách sạn Tấn Hưng thuộc khu phố 12, phường Phú Thủy, thành phố P nên Hồng Tuấn C đến Khách sạn, xông vào phòng của H, C nhìn thấy 01 con dao (loại dao Thái Lan) có lưỡi bằng kim loại, cán màu vàng để trên bàn trong phòng, C đến lấy và đâm nhiều nhát vào đầu, cổ, lưng, vai và chân của Nguyễn Đức H gây thương tích.

Sau khi đâm xong C bỏ đi, H bị thương được người dân đưa đến cấp cứu tại Bệnh viện đa khoa An Phước.

Ngày 29/5/2022, Nguyễn Đức H có đơn yêu cầu giám định thương tích và đề nghị truy cứu trách nhiệm hình sự đối với Hồng Tuấn C.

Tại bản kết luận giám định pháp y về thương tích số 482/2022/TgT ngày 07/9/2022 của Trung tâm pháp y tỉnh B kết luận về thương tích của Nguyễn Đức H như sau:

Vết thương phần mềm vùng thái dương trái đã được điều trị, hiện để lại sẹo lành kích thước: 2,2 x 0,2 cm. Tỷ lệ tổn thương có thể là: 1%.

Vết thương phần mềm vùng cổ sau đã được điều trị, hiện để lại sẹo lành kích thước: 1 x 0,2 cm. Tỷ lệ tổn thương cơ thể là: 2%.

Vết thương vùng lưng trái thấu ngực trái, tràn khí – tràn dịch màng phổi trái, dị vật ngực trái đã được phẫu thuật điều trị, hiện để lại sẹo vết thương trùng với sẹo vết mổ kích thước: 6,5 x 0,7cm; sẹo vết dẫn lưu vùng đường nách giữa trái kích thước: 2,2 x 1cm. Tỷ lệ tổn thương cơ thể là: 3% + 3% + 2%.

Vết thương phần mềm vùng đỉnh vai phải đã được điều trị, hiện để lại sẹo lành kích thước: 1,1 x 0,6 cm. Tỷ lệ tổn thương cơ thể là: 2%.

Vết thương phần mềm mặt ngoài gối trái đã được điều trị, hiện để lại sẹo lành kích thước: 1,5 x 0,2 cm. Tỷ lệ tổn thương cơ thể là: 1%.

Tổng tỷ lệ tổn thương có thể do thương tích gây nên cho ông Nguyễn Đức H hiện tại là: 13%.

Vết thương vùng thái dương trái,vùng cổ sau,vùng đỉnh vai phải,mặt ngoài gối trái do vật sắc gây ra;vết thương vùng lưng trái do vật sắc nhọn gây ra.

Vết thương vùng thái dương trái có chiều hướng tác động từ trái sang phải, với lực tác động nhẹ; Vết thương vùng cổ sau có chiều hướng lực tác động từ sau ra trước, với lực tác động nhẹ; Vết thương vùng đỉnh vai phải có chiều hướng lực tác động từ trên xuống dưới, với lực tác động nhẹ; Vết thương vùng gối trái có chiều hướng lực tác động theo tư thế cơ năng của cơ thể với vật gây thương, với lực tác động nhẹ.

Hiện tại không xác định cố tật.

Vật chứng của vụ án:

C khai dùng con dao có đặc điểm là dao Thái Lan, lưỡi bằng kim loại, cán màu vàng gây thương tích cho H, C bỏ lại tại hiện trường. Cơ quan điều tra đã tiến hành truy tìm nhưng không thu giữ được.

Về dân sự: Nguyễn Đức H yêu cầu Hồng Tuấn C bồi thường số tiền 40.000.000 đồng, gồm: tiền thuốc điều trị, tiền tổn thất về sức khỏe, tinh thần. C chưa bồi thường. Ngày 19/5/2022, C đã vận động gia đình bồi thường số tiền 5.000.000 đồng cho gia đình H, số tiền còn lại C đồng ý tiếp tục bồi thường cho H.

Quá trình điều tra, bị cáo Hồng Tuấn C thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội như trên. Bị cáo Hồng Tuấn C có hành động vô cớ cầm dao (loại dao Thái Lan) là hung khí nguy hiểm gây thương tích cho Nguyễn Đức H với tỉ lệ thương tật 13% nêu trên của Hồng Tuấn C, đã phạm tội: Cố ý gây thương tích. Tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật Hình sự. (có 02 tình tiết định khung tăng nặng hình phạt quy định tại điểm a và điểm i khoản 1 Điều 134 Bộ luật Hình sự).

Hành vi nêu trên của bị cáo Hồng Tuấn C đã bị Viện kiểm sát nhân dân thành phố P, tỉnh B truy tố tại bản cáo trạng số 226/CT-VKSPT-HS ngày 29 tháng 11 năm 2022, về tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật Hình sự. (có 02 tình tiết định khung tăng nặng hình phạt quy định tại điểm a và điểm i khoản 1 Điều 134 Bộ luật Hình sự).

Tại phiên tòa, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố P phát biểu quan điểm xử lý và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm a, i khoản 1, điểm đ khoản 2 Điều 134, điểm b, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự, Hồng Tuấn C có 01 tiền án, chưa được xóa án tích nay tiếp tục phạm tội do cố ý thuộc trường hợp “Tái phạm”, là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự, xử phạt Hồng Tuấn C từ 30 tháng đến 36 tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích”.

Tại phiên tòa, bị cáo không tranh luận gì và thống nhất với quan điểm luận tội của Viện kiểm sát.

Lời nói sau cùng bị cáo Hồng Tuấn C trình bày: bị cáo thấy mình đã sai, nhưng bị cáo không có tiền để bồi thường thiệt hại cho gia đình H.

Sau khi phạm tội các bị cáo rất ân hận về hành vi phạm tội đã thực hiện mong Hội đồng xét xử khoan hồng, giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố P, Viện kiểm sát nhân dân thành phố P, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố: Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát và những người tiến hành tố tụng đã thực hiện tương đối đầy đủ và đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và truy tố, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, trình tự thủ tục tố tụng cũng như các quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, trình tự thủ tục tố tụng cũng như các quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng.

Về căn cứ buộc tội bị cáo: Tại phiên tòa, bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung cáo trạng đã nêu, xét lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai người bị hại, phù hợp với nội dung biên bản hiện trường ghi nhận các dấu vết, phù hợp với các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đủ cơ sở để kết luận: Khoảng 16 giờ 20 phút ngày 18/5/2022, tại phòng 303 của Khách sạn Tấn Hưng thuộc khu phố 12, phường Phú Thủy, thành phố P. Hồng Tuấn C đã có hành vi dùng con dao (loại dao Thái Lan), vô cớ đâm nhiều nhát vào đầu, cổ, lưng, vai và chân của Nguyễn Đức H gây thương tích với tỷ lệ 13%.

Hồng Tuấn C có hành động vô cớ cầm dao (loại dao Thái Lan) là hung khí nguy hiểm gây thương tích cho Nguyễn Đức H với tỉ lệ thương tật 13% nêu trên của Hồng Tuấn C, đã phạm tội: Cố ý gây thương tích. Tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật Hình sự. (có 02 tình tiết định khung tăng nặng hình phạt quy định tại điểm a và điểm i khoản 1 Điều 134 Bộ luật Hình sự).

Hành vi của Hồng Tuấn C đã trực tiếp xâm phạm đến sức khỏe của người khác gây ảnh H xấu đến tình hình an ninh trật tự tại địa phương, là nguy hiểm cho xã hội. Do đó, cần phải xử lý nghiêm khắc để răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung.

Cáo trạng của Viện kiểm sát thành phố P truy tố bị cáo với các tội danh và khung hình phạt như đã nêu trên là có căn cứ, đúng quy định pháp luật.

Xét tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội thấy rằng: Hồng Tuấn C có hành động vô cớ cầm dao (loại dao Thái Lan) là hung khí nguy hiểm gây thương tích cho Nguyễn Đức H với tỉ lệ thương tật 13% cho thấy bị cáo rất manh động, càn quấy liều lĩnh, nguy hiểm cho xã hội, xem thường pháp luật. Hành vi của bị cáo không những đã xâm phạm đến sức khỏe, quyền sở hữu của người khác mà còn ảnh H xấu đến trật tự, trị an của địa phương và gây tâm lý bất an trong nhân dân, gây mất trật tự trị an địa phương. Do vậy cần xử lý nghiêm khắc, cần cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để răn đe, giáo dục riêng và phòng ngừa tội phạm chung.

Về các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Hồng Tuấn C có 01 tiền án, chưa được xóa án tích nay tiếp tục phạm tội do cố ý thuộc trường hợp “Tái phạm”, là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra bị cáo Hồng Tuấn C đã tác động gia đình bồi thường một phần thiệt hại cho bị hại và thành khẩn khai báo nên được H tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm b, s khoản 1, Điều 51 BLHS.

Về nhân thân của bị cáo: Trên cơ sở cân nhắc tính chất mức độ hành vi phạm tội, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo, thấy rằng: Hành vi nêu trên của Hồng Tuấn C là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm sức khỏe của người khác gây ảnh H xấu đến trật tự trị an tại địa phương do vậy, cần phải xử lý thật nghiêm khắc để trừng trị, giáo dục bị cáo ý thức tuân theo pháp luật và các quy tắc của cuộc sống, ngăn ngừa các bị cáo phạm tội mới; đồng thời giáo dục những người khác tôn trọng pháp luật và đấu tranh chống tội phạm.

Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố P đề nghị áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật Hình sự. (có 02 tình tiết định khung tăng nặng hình phạt quy định tại điểm a và điểm i khoản 1 Điều 134 Bộ luật Hình sự, xử phạt Hồng Tuấn C từ 30 tháng đến 36 tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích”.

Xét thấy lời đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là phù hợp với quy định của pháp luật, sau khi phạm tội bị cáo đã thành khẩn khai báo, do đó nên áp dụng tình tiết giảm nhẹ này, xem xét giảm nhẹ một phần trách nhiệm hình sự để bị cáo sớm cải thiện trở thành người có ích cho xã hội.

Về vật chứng của vụ án: C khai dùng con dao có đặc điểm là dao Thái Lan, lưỡi bằng kim loại, cán màu vàng gây thương tích cho H, C bỏ lại tại hiện trường. Cơ quan điều tra đã tiến hành truy tìm nhưng không thu giữ được.

Về bồi thường dân sự: Nguyễn Đức H yêu cầu Hồng Tuấn C bồi thường số tiền 40.000.000 đồng, gồm: tiền thuốc điều trị, tiền tổn thất về sức khỏe, tinh thần. Tại phiên tòa, anh H yêu cầu bị cáo Hồng Tuấn C bồi thường bao gồm: tổng chi phí điều trị tại bệnh viện An Phước là 14.641.435 đồng, ngoài ra H còn phải bồi dưỡng những ngày nằm viện và sau khi ra viện. Ngày 19/5/2022, C đã vận động gia đình bồi thường số tiền 5.000.000 đồng cho gia đình H, số tiền còn lại C đồng ý tiếp tục bồi thường cho H. Bị cáo Hồng Tuấn C đồng ý tiếp tục bồi thường thêm cho H số tiền 35.000.000 đồng. Đây là sự thỏa thuận tự nguyện của bị cáo và người bị hại, sự thỏa thuận này là phù hợp với quy định của pháp luật nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm về phần bồi thường thiệt hại về sức khỏe.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

1. Áp dụng: điểm a, i khoản 1, điểm đ khoản 2 Điều 134, điểm b, s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự, Điều 584, Điều 585, Điều 590 Bộ luật Dân sự.

Tuyên bố: Bị cáo Hồng Tuấn C phạm tội “Cố ý gây thương tích”.

Xử phạt: Bị cáo Hồng Tuấn C 30 tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích”, thời hạn tù tính từ ngày bắt giam để thi hành án.

2. Về bồi thường dân sự: Công nhận sự thỏa thuận giữa bị cáo Hồng Tuấn C và ông Nguyễn Đức H.

Bị cáo Hồng Tuấn C phải tiếp tục bồi thường thêm cho ông Nguyễn Đức H số tiền 35.000.000 đồng (ba mươi lăm triệu đồng).

Trường hợp bên có nghĩa vụ chậm trả tiền thì bên đó phải trả lãi đối với số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả. Lãi suất phát sinh do chậm trả tiền được xác định theo thỏa thuận của các bên nhưng không được vượt quá mức lãi suất được quy định tại khoản 01 Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015; nếu không có thỏa thuận thì thực hiện theo quy định tại khoản 02 Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015.

3. Về án phí: Áp dụng Điều 135, Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo Hồng Tuấn C phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm và 1.750.000 đồng tiền án phí Dân sự sơ thẩm.

Án xử công khai có mặt bị cáo, người bị hại. Bị cáo, người bị hại có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (30/12/2022).

Cỡ chữ