- Tranh chấp gì? án hình sự — "Trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thƣờng vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 2 Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP Hướng dẫn áp dụng Điều 65 của…; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THUẬN AN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH B DƢƠNG Bản án số: 259/2021/HS-ST Ngày 22-9 - 2021 |
NHÂN DA
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THUẬN AN TỈNH B DƯƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Thu.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Trần Ngọc Phƣơng;
2. Bà Phan Hồng Châu.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Nghĩa – Thƣ ký Tòa án nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh B Dƣơng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh B Dương tham gia phiên tòa: Ông Trần Xuân Sỹ - Kiểm sát viên.
Ngày 22 tháng 9 năm 2021, tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh B Dƣơng, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 265/2021/TLST-HS ngày 09 tháng 8 năm 2021 theo Quyết định đƣa vụ án ra xét xử số: 283/2021/QĐXXST-HS ngày 08 tháng 9 năm 2021 đối với bị cáo:
Vũ Văn B, sinh ngày 01 tháng 10 năm 1986 tại tỉnh Ninh Bình; nơi cƣ trú: Xóm 4, xã L, huyện K, tỉnh Ninh Bình; tạm trú: 119/9 Bis, khu phố Đ, phƣờng L, thành phố T, tỉnh Bình Dƣơng; nghề nghiệp: Tài xế; trình độ văn hóa: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Thiên chúa giáo; quốc tịch: Việt Nam; con ông Vũ Văn L, sinh năm 1962 và bà Nguyễn Thị H, sinh năm 1962; tiền án; tiền sự: Không; bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn bằng hình thức Cấm đi khỏi nơi cƣ trú. Vắng mặt, có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt.
- Bị hại: Công an thành phố T, tỉnh Bình Dƣơng. Ngƣời đại diện hợp pháp: Ông Võ Minh Q – Thƣợng úy Phó đội trƣởng Đội Cảnh sát Giao thông trật tự Công an thành phố T (văn bản ủy quyền số 03/CATP ngày 20/12/2020). Vắng mặt, có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:
1. Ông Võ Minh Q, sinh năm 1984; trú tại: Khu phố 3, phƣờng M, thị xã B, tỉnh Bình Dƣơng. Vắng mặt, có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt.
2. Ông Lê Đức D, sinh năm 1991; trú tại: 15/60A khu phố B, phƣờng A, thành phố D, tỉnh Bình Dƣơng. Vắng mặt, có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt.
Người làm chứng: Ông Lƣu Hùng A, sinh năm 1995. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án đƣợc tóm tắt nhƣ sau:
Vào khoảng 00 giờ 30 phút ngày 19/12/2020, Vũ Văn B điều khiển xe mô tô biển số 37P9-2258 đi trên đƣờng Lái Thiêu 01, khu phố Đ, phƣờng L thì thấy Lƣu Hùng A, sinh năm 1995, HKTT: Thôn 2, xã Quý Lộc, huyện Yên Định, tỉnh ThA Hóa đang bị tổ tuần tra của Đội Cảnh sát giao thông Công an thành phố Thuận An do đồng chí Thƣợng úy Võ Minh Q làm tổ trƣởng yêu cầu dừng xe và kiểm tra hành chính, thấy vậy B định quay đầu xe chạy đi, lúc này Tổ tuần tra quan sát thấy B có biểu hiện nghi vấn nên yêu cầu B dừng xe để kiểm tra, đồng thời yêu cầu B và Hùng A xuất trình giấy tờ, do không xuất trình đƣợc giấy tờ xe mô tô và B, Hùng A có biểu hiện sử dụng rƣợu bia nên tổ tuần tra đã mời B và Hùng A về bãi giữ xe của Công an thành phố Thuận An tại địa chỉ khu phố Đông Tƣ, phƣờng Lái Thiêu, thành phố Thuận An, tỉnh B Dƣơng để tiến hành đo nồng độ cồn trong hơi thở và lập biên bản vi phạm hành chính đối với B và Hùng A. Sau khi lập biên bản vi phạm hành chính đối với B thì tổ tuần tra cho về trƣớc và tiếp tục tiến hành lập biên bản vi phạm hành chính đối với Hùng A. Quá trình đo nồng độ cồn của ngƣời vi phạm tham gia giao thông xong thì đồng chí Q có để 01 máy đo nồng độ cồn trong hơi thở nhãn hiệu Anda Tech Prodigy trên yên xe mô tô tuần tra gắn biển số 61A1-8181. Lợi dụng lúc tổ tuần tra đang tập trung lập biên bản đối với Hùng A thì B đã lén lút lấy trộm máy đo nồng cồn này của tổ tuần tra, rồi đi bộ về Giáo xứ B Hòa cất giấu trong bồn hoa và nằm ngủ trƣớc cổng giáo xứ. Khoảng 15 phút sau, B tỉnh dậy đi bộ quay lại bãi giữ xe của Công an thành phố Thuận An để gọi Hùng A đi về, tại thời điểm này tổ tuần tra phát hiện máy đo nồng độ cồn để trên yên xe mô tô biển số 61A1-8181 đã bị mất trộm. Tổ tuần tra thấy B quay lại nên hỏi B có lấy máy đo nồng độ cồn hay không, thì B trả lời không. Tổ tuần tra tiến hành kiểm tra lại camera an ninh tại bãi giữ xe vi phạm của Công an thành phố Thuận An thì phát hiện B là ngƣời đã lấy trộm máy đo nồng độ nên đƣa B đến Công an phƣờng Lái Thiêu để làm việc. Tại Công an phƣờng Lái Thiêu, qua làm việc ban đầu B đã thừa nhận hành vi lấy trộm 01 máy đo nồng độ cồn trong hơi thở của tổ tuần tra nhƣ đã nêu trên. Đồng thời, B chỉ dẫn Công an phƣờng Lái Thiêu cùng Tổ tuần tra của Đội Cảnh sát giao thông đến Giáo xứ B Hòa để thu hồi 01 máy đo nồng độ cồn trong hơi thở trên. Công an phƣờng Lái Thiêu đã chuyển tin báo về nguồn tin về tội phạm đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Thuận An để thụ lý giải quyết theo thẩm quyền.
Căn cứ biên bản định giá và kết luận định giá tài sản ngày 24/12/2020 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố Thuận An, kết luận: 01 máy đo nồng độ cồn trong hơi thở nhãn hiệu Anda Tech Prodigy xuất xứ Australia tại thời điểm bị chiếm đoạt có trị giá là 16.000.000 đồng.
Cáo trạng số 275/CT-VKSTA ngày 02/8/2021 của Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh B Dƣơng đã truy tố bị cáo Vũ Văn B tội Trộm cắp tài sản theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
Tại phiên tòa, Kiểm sát viên giữ quyền công tố vẫn giữ nguyên quyết định nhƣ bản cáo trạng đã truy tố.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo phạm tội không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Sau khi phạm tội bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; phạm tội lần đầu thuộc trƣờng hợp ít nghiêm trọng; phạm tội nhƣng chƣa gây thiệt hại hoặc gây thiệt hại không lớn; bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo nên đề nghị Hội đồng xét xử cho bị cáo đƣợc hƣởng tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại các điểm h, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Kiểm sát viên đề nghị áp dụng:
- Khoản 1 Điều 173; các điểm h, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 65 Bộ luật Hình sự, đƣợc sửa đổi, bổ sung năm 2017;
- Điều 106; Điều 136,các điểm c, d khoản 2 Điều 290, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015;
- Điều 2 Nghị quyết 02/2018/NQ-HĐTP của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao ngày 15/5/2018.
Kiểm sát viên đề nghị xử phạt bị cáo Vũ Văn B mức án từ 01 (một) năm đến 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù, cho hƣởng án treo, thời gian thử thách 02 (hai) năm đến 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng.
Về trách nhiệm dân sự: 01 máy đo nồng độ cồn trong hơi thở nhãn hiệu Anda Tech Prodigy xuất xứ Australia là tài sản của Đội Cảnh sát giao thông Công an thành phố Thuận An sử dụng để thực hiện nhiệm vụ do đó Cơ quan điều tra Công an thành phố Thuận An đã trả lại cho bị hại theo quy định là có căn cứ nên đề nghị Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét. Bị hại không có yêu cầu bị cáo bồi thƣờng nên đề nghị Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
Quá trình tố tụng ngƣời đại diện hợp pháp của bị hại ông Võ Minh Q thống nhất nội dung bản cáo trạng, đã nhận lại tài sản, không yêu cầu bị cáo bồi thƣờng gì về trách nhiệm dân sự và xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Quá trình tố tụng, bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội giống nội dung Viện kiểm sát truy tố, bị cáo rất ân hận về hành vi phạm tội của mình nên xin đƣợc hƣởng mức hình phạt thấp nhất để có điều kiện làm lại cuộc đời.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã đƣợc trA tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định nhƣ sau:
Bị cáo Vũ Văn B có yêu cầu xét xử vắng mặt nộp trực tiếp cho Tòa án ngày 16/9/2021. Xét thấy, đây là yêu cầu tự nguyện của bị cáo, việc vắng mặt của bị cáo không gây trở ngại cho việc xét xử phù hợp với điểm c, d khoản 2 Điều 290 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 nên Hội đồng xét xử chấp nhận xét xử vắng mặt bị cáo.
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Điều tra Công an thành phố Thuận An, của Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thuận An, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình tố tụng, bị cáo, bị hại và những ngƣời tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, ngƣời tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, ngƣời tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp, đúng quy định.
Quá trình tố tụng, bị cáo Vũ Văn B đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội, lời khai của bị cáo thống nhất với nhau, phù hợp với các tình tiết nhƣ bản cáo trạng đã truy tố, phù hợp với lời khai của bị hại và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án về thời gian địa điểm, quá trình thực hiện hành vi phạm tội và tài sản đã chiếm đoạt. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở nhận định:
Vào khoảng 00 giờ 30 phút ngày 19/12/2020, tại bãi giữ xe của Đội Cảnh sát giao thông Công an thành phố Thuận An, bị cáo đã lén lút chiếm đoạt 01 máy đo nồng độ cồn trong hơi thở nhãn hiệu Anda Tech Prodigy xuất xứ Australia, trị giá là 16.000.000 đồng. Hành vi của bị cáo đã thực hiện đủ yếu tố cấu thành tội Trộm cắp tài sản theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
Do đó, Cáo trạng của Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Thuận An truy tố bị cáo về tội Trộm cắp tài sản theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự là có căn cứ và đúng pháp luật, mức đề nghị hình phạt đối với bị cáo là phù hợp với hành vi bị cáo đã thực hiện.
Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của ngƣời khác đƣợc pháp luật bảo vệ, gây mất trật tự trị an tại địa phƣơng. Bị cáo nhận thức rõ hành vi lén lút chiếm đoạt trái phép tài sản của ngƣời khác là vi phạm pháp luật hình sự và sẽ bị trừng trị nhƣng vì động cơ tham lam, tƣ lợi và muốn có tiền tiêu xài nên đã cố ý phạm tội. Do đó khi quyết định hình phạt cũng cần xem xét, cân nhắc và áp dụng mức hình phạt tƣơng xứng với tính chất, mức độ, hậu quả phạm tội đã thực hiện có xem xét đến tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo phạm tội không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo phạm tội lần đầu thuộc trƣờng hợp ít nghiêm trọng; sau khi phạm tội bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; phạm tội nhƣng chƣa gây thiệt hại hoặc gây thiệt hại không lớn; bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo nên Hội đồng xét xử cho bị cáo đƣợc hƣởng tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại các điểm h, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Xét thấy bị cáo có nhân thân tốt, có địa chỉ cƣ trú rõ ràng, việc phạm tội có nhiều tình tiết giảm nhẹ, có khả năng tự cải tạo, việc không tiếp tục cách ly bị cáo ra ngoài xã hội không gây nguy hiểm nên không cần cách ly bị cáo, mà áp dụng khoản 2, Điều 2 Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP và Điều 65 Bộ luật Hình sự cho bị cáo đƣợc hƣởng án treo, tạo điều kiện để bị cáo tự cải tạo, giao bị cáo cho chính quyền địa phƣơng nơi cƣ trú giám sát, giáo dục theo quy định pháp luật.
Về trách nhiệm dân sự: 01 máy đo nồng độ cồn trong hơi thở nhãn hiệu Anda Tech Prodigy xuất xứ Australia là tài sản của Công an thành phố Thuận An. Công an thành phố Thuận An đã giao toàn quyền quản lý, sử dụng cho Đội Cảnh sát giao thông Công an thành phố Thuận An sử dụng để thực hiện nhiệm vụ do đó Cơ quan điều tra Công an thành phố Thuận An đã trả lại cho Đội Cảnh sát giao thông Công an thành phố Thuận An theo quy định là phù hợp với quy định của pháp luật. Bị hại không yêu cầu bị cáo bồi thƣờng gì thêm nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào:
- Khoản 1 Điều 173; các điểm h, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 65 Bộ luật Hình sự, đƣợc sửa đổi, bổ sung năm 2017;
- Điều 106; Điều 136, các điểm c, d khoản 2 Điều 290, Đều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015;
- Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thƣờng vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.
- Điều 2 Nghị quyết 02/2018/NQ-HĐTP của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao ngày 15/5/2018.
1. Về trách nhiệm hình sự:
Tuyên bố bị cáo Vũ Văn B phạm tội Trộm cắp tài sản.
Xử phạt bị cáo Vũ Văn B 01 (một) năm tù, cho hƣởng án treo thời gian thử thách là 02 (hai) năm tính từ ngày tuyên án là ngày 22/9/2021. Giao bị cáo Vũ Văn B cho Ủy ban nhân dân phƣờng L, thành phố T, tỉnh Bình Dƣơng giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Trƣờng hợp ngƣời đƣợc hƣởng án treo thay đổi nơi cƣ trú thì Ủy ban nhân dân phƣờng Lái Thiêu phải thông báo cho Cơ quan thi hành án hình sự thành phố Thuận An để tiến hành thủ tục theo quy định tại tại Điều 92 của Luật Thi hành án hình sự năm 2019.
Trong thời gian thử thách, nếu ngƣời đƣợc hƣởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự năm 2019 hai lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc ngƣời đƣợc hƣởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hƣởng án treo. Trƣờng hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc ngƣời đó phải chấp hành hình phạt của bản án trƣớc và tổng hợp với hình phạt của bán án mới theo quy định của pháp luật.
2. Về án phí: Bị cáo Vũ Văn B phải chịu 200.000đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo; bị hại; ngƣời có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày bản án đƣợc giao hoặc niêm yết./.
T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Nơi nhận: - TAND tỉnh B Dƣơng; - VKSND thành phố Thuận An; - VKSND tỉnh B Dƣơng; - Chi cục THA thành phố Thuận An; - CQCSĐT Công an thành phố Thuận An; - Cơ quan THAHS Công an thành phố Thuận An; - Sở tƣ pháp tỉnh Bình Dƣơng; - Bị cáo; - Bị hại; ngƣời tham gia tố tụng khác. - Lƣu: HS, THAHS, AV. | THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Thị Thu |