vanban.org

Bản án 259/2018/HN-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

TAND TP. Hồ Chí Minh Tuyên án 01/03/2018 Hôn nhân và gia đình Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Nguyễn Thị Kim A - Lê Thanh Đ"
  • Căn cứ chính? Điều 57 Luật Hôn nhân và gia đình; Luật Tương trợ tư pháp; Điều 131 Luật Hôn nhân và gia đình

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

THÀNH!PHỐ!HỒ!CHÍ!MINH!
!
!
Bản án số: 259/2018/HN-ST
Ngày: 01/3/2018

V/v: “Tranh chấp ly hôn”

NHÂN!DANH!

NƯỚC!CỘNG!HÒA!XÃ!HỘI!CHỦ!NGHĨA!VIỆT!NAM!

TÒA!ÁN!NHÂN!DÂN!THÀNH!PHỐ!HỒ!CHÍ!MINH!

!

Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Hồ!Minh!Cường.

Các Hội thẩm nhân dân:

Bà!Phan!Thị!Nghĩa.!

Ông Phan!Văn!Hòa!Bình.! !

Thư ký Tòa án phiên tòa: Ông Hoàng!Minh!Dự - Cán bộ Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh: Ông Lê! Tấn! Đông - Kiểm sát viên tham gia phiên tòa.

Ngày 01/3/2018 tại Phòng xử án Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân thụ lý số 88/HNST ngày 09/3/2016 về việc “Tranh chấp ly hôn”.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 625/2018/QĐ-ST ngày 07/02/2018, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Bà Nguyễn!Thị!Kim!Anh, sinh năm 1982.

Địa chỉ: 675/25C đường Trần Xuân Soạn, phường Tân Hưng, Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh.

Bị đơn: Ông Lê!Thanh!Đức, sinh năm: 1974.

Địa chỉ: 13581 Iowa St, Westminter, CA 92683,USA.

NỘI!DUNG!VỤ!ÁN:

Theo Đơn khởi kiện và các bản khai, nguyên đơn bà Nguyễn Thị Kim Anh trình bày:

Bà và ông Lê Thanh Đức đăng ký kết hôn vào ngày 14/4/2010 tại Ủy ban

nhân dân tỉnh Long An, được cấp Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn số 59, quyển số 1 ngày 16/4/2010.

Sau khi kết hôn, ông Lê Thanh Đức trở về nước sinh sống. Từ đó đến nay,

vợ chồng ít khi liên lạc với nhau, mỗi người sống một nước khác nhau, tình cảm không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên bà yêu cầu ly hôn với ông Lê Thanh Đức.

Về con chung: Bà Nguyễn Thị Kim Anh khai có một con chung là Lê

Quỳnh Anh, sinh ngày 28/12/2010. Bà có nguyện vọng được nuôi dưỡng Trẻ Quỳnh Anh và không yêu cầu ông Lê Thanh Đức cấp dưỡng.

Về tài sản chung và nợ chung: Bà Nguyễn Thị Kim Anh khai không có và

không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh đã tiến hành tống đạt hợp lệ

các văn bản tố tụng cho ông Lê Thanh Đức thông qua thủ tục ủy thác tư pháp đến lần thứ hai. Tuy nhiên, ông Lê Thanh Đức vẫn vắng mặt và không có trả lời cho Tòa án.

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh phát biểu ý kiến tại

phiên tòa sơ thẩm:

Về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán và Hội đồng xét xử: Tòa án

đã thụ lý, giải quyết vụ kiện đúng thẩm quyền; Thẩm phán đã chấp hành đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng Dân sự trong quá trình gải quyết vụ án. Tòa án đã tiến hành việc ủy thác tư pháp đến lần thứ hai mà vẫn chưa nhận được phản hồi từ ông Lê Thanh Đức. Như vậy, căn cứ vào Điều 15 Thông tư liên tịch số 15/2011/TTLT-BTP-BNG-TANDTC của Bộ Tư pháp, Bộ Ngoại giao, Tòa án nhân dân Tối cao ngày 15 tháng 09 năm 2011 Hướng dẫn một số quy định về tương trợ tư pháp trong lĩnh vực dân sự của Luật Tương trợ tư pháp, Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh có quyền tiếp tục giải quyết vụ án theo thủ tục chung.

Tại phiên tòa sơ thẩm, Hội đồng xét xử đã tuân theo đúng quy định của pháp

luật tố tụng về thời gian, địa điểm, thành phần Hội đồng xét xử. Do nguyên đơn có đơn đề nghị xét xử vắng mặt và bị đơn được Tòa án ủy thác tư pháp đúng quy định nhưng vẫn không hồi âm nên Tòa án xét xử vắng mặt các đương sự là đúng quy định.

Về nội dung:

Về quan hệ hôn nhân: Căn cứ Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn giữa ông Lê

Thanh Đức và bà Nguyễn Thị Kim Anh được Ủy ban nhân dân tỉnh Long An cấp ngày 14/4/2010 thì quan hệ hôn nhân giữa ông Lê Thanh Đức và bà Kim Anh là hợp pháp. Căn cứ các tài liệu, chứng cứ hồ sơ có trong hồ sơ có cơ sở xác định quan hệ hôn nhân không đạt được, hai người hiện đang sống ở hai nước khác nhau nên khả năng đoàn tụ là không có. Xét thấy, yêu cầu xin ly hôn của bà Kim Anh là hoàn toàn tự nguyện, không trái pháp luật và đạo đức xã hội nên có cơ sở chấp nhận.

Về con chung: Có 01 người con chung là Trẻ Lê Quỳnh Anh sinh ngày 28/12/2010. Hiện Trẻ đang sống cùng bà Kim Anh tại Việt Nam. Bà Kim Anh có nguyện vọng được nuôi con chung và không yêu cầu ông Đức cấp dưỡng. Từ khi sinh ra đến nay, bà Kim Anh là người trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng trẻ Lê Quỳnh Anh. Do đó, để tránh gây xác trộn sinh hoạt của trẻ, nên giao Trẻ Lê Quỳnh Anh cho bà Kim Anh trực tiếp nuôi dưỡng.

Về tài sản chung và nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị Kim Anh với ông Lê Thanh Đức.

NHẬN!ĐỊNH!CỦA!TÒA!ÁN:!

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về mặt tố tụng:

Bà Nguyễn Thị Kim Anh hiện đang cư trú tại Thành phố Hồ Chí Minh có đơn yêu cầu ly hôn với ông Lê Thanh Đức hiện đang cư trú ở Hợp chúng quốc Hoa Kỳ tại thời điểm thụ lý vụ án. Căn cứ khoản 1 Điều 28, khoản 3 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 37 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết theo thủ tục sơ thẩm của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.

Bà Nguyễn Thị Kim Anh có đơn xin vắng mặt tại các buổi làm việc, hòa giải, xét xử của Tòa án. Đồng thời, Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh đã tiến hành thực hiện ủy thác tư pháp đến lần thứ hai cho ông Lê Thanh Đức. Tuy nhiên, ông Lê Thanh Đức vẫn không có trả lời và vắng mặt không có lý do đến lần thứ hai. Xét thấy, theo quy định tại khoản 2 Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt bà Nguyễn Thị Kim Anh và ông Lê Thanh Đức.

Xét về quan hệ vợ chồng: Bà Nguyễn Thị Kim Anh và ông Lê Thanh Đức đăng ký kết hôn vào đăng ký kết hôn vào ngày 14/4/2010 tại Ủy ban nhân dân tỉnh Long An, được cấp Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn số 59, quyển số 1 ngày 16/4/2010. Do vậy, quan hệ hôn nhân giữa bà Nguyễn Thị Kim Anh và ông Lê Thanh Đức là hợp pháp, được pháp luật công nhận và bảo vệ.

Xét yêu cầu xin được ly hôn của bà Nguyễn Thị Kim Anh: Hội đồng xét xử xét thấy hiện nay, bà Kim Anh và ông Lê Thanh Đức mỗi người sống một nơi, không còn quan tâm đến nhau, tình trạng hôn nhân là trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Hai vợ chồng đang sống ở hai nước khác nhau nên khả năng đoàn tụ không còn. Như vậy, bà Kim Anh và ông Lê Thanh Đức đã không thực hiện đúng nghĩa vụ quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau để xây dựng gia đình hạnh phúc theo khoản 2 Điều 2 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014. Do đó, căn cứ Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà Nguyễn Thị Kim Anh và ông Lê Thanh Đức theo đề nghị của đại diện Viện Kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa.

Căn cứ quy định tại khoản 1, Điều 57 Luật Hôn nhân và gia đình 2014 thì

quan hệ hôn nhân giữa bà Nguyễn Thị Kim Anh và ông Lê Thanh Đức chấm dứt kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật. Đồng thời, căn cứ khoản 2 Điều 57 Luật Hôn nhân và gia đình 2014, Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh sẽ gửi bản án có hiệu lực pháp luật cho Sở Tư pháp tỉnh Long An và Ủy ban nhân dân tỉnh Long An để ghi chú vào sổ hộ tịch.

Về con chung: Hai vợ chồng có người con chung là Trẻ Lê Quỳnh Anh

sinh ngày 28/12/2010. Từ khi sinh ra đến nay, bà Kim Anh là người trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng trẻ Lê Quỳnh Anh. Hiện nay, Trẻ đang sống cùng bà Kim Anh tại Việt Nam. Xét thấy hiện nay trẻ đang sống vui vẻ, khỏe mạnh được học tập và phát triển thể chất bình thường, trẻ cũng có nguyện vọng được ở với mẹ nếu bố mẹ ly hôn. Đồng thời, bà Kim Anh cũng không yêu cầu ông Lê Thanh Đức cấp dưỡng. Hội đồng xét xử xét thấy để tránh gây xáo trộn sinh hoạt cho trẻ cần giao trẻ Lê Quỳnh Anh cho bà Kim Anh trực tiếp nuôi dưỡng và không yêu cầu ông Đức cấp dưỡng.

Về tài sản chung và nợ chung: Đương sự khai không có và không yêu cầu

nên Tòa án không giải quyết.

Về án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm: Bà Nguyễn Thị Kim Anh phải chịu

theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên; !

!

QUYẾT!ĐỊNH:!

- Căn cứ khoản 1 Điều 28, khoản 3 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 37,

khoản 1 Điều 227, Điều 479 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015.

- Căn cứ khoản 2, Điều 2; Điều 56; khoản 1, khoản 2 Điều 57 và Điều 131 Luật

Hôn nhân và gia đình năm 2014.

- Căn cứ Pháp lệnh về án phí, lệ phí Tòa án.

*!Tuyên!xử:!

Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của bà Nguyễn Thị Kim Anh.

1/ Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thị Kim Anh được ly hôn với ông Lê Thanh Đức.

Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn vào Sổ đăng ký số 59, quyển số 1 ngày 16/4/2010 của Ủy ban nhân dân tỉnh Long An không còn giá trị pháp lý kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật.

2/ Về con chung: Bà Nguyễn Thị Kim Anh được trực tiếp nuôi dưỡng trẻ Lê Quỳnh Anh sinh ngày 28/12/2010 và ông Lê Thanh Đức không phải chịu nghĩa vụ cấp dưỡng.

3/ Về tài sản chung và nợ chung: Đương sự khai không có và không yêu cầu nên Tòa án không giải quyết.

4/ Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Bà Nguyễn Thị Kim Anh phải nộp 200.000 (Hai trăm nghìn đồng), được cấn trừ tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số AE/2011/02520 ngày 03/3/2015 của Cục Thi hành án dân sự Thành phố Hồ Chí Minh.

Bà Nguyễn Thị Kim Anh được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận tống đạt, hoặc niêm yết hợp lệ bản án.

Do ông Lê Thanh Đức cư trú ở nước ngoài và không có mặt tại phiên tòa nên thời hạn kháng cáo bản án, quyết định của Tòa án là 01 tháng, kể từ ngày bản án, quyết định được tống đạt hợp lệ hoặc kể từ ngày bản án, quyết định được niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật.

Cỡ chữ