vanban.org

Bản án 258a/2025/HS-PT — Hình sự

TAND tỉnh Lâm Đồng Tuyên án 12/12/2025 Hình sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 12/12/2025 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

sự; điểm b khoản 2 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội;

Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Trương Thế T; Giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số 38/2025/HS-ST ngày 23 tháng 9 năm 2025 của Tòa án nhân dân khu vực 17 – Lâm Đồng về phần hình phạt đối với bị cáo Trương Thế T. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Trương Thế T - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? sự; điểm b khoản 2 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội;
  • Căn cứ chính? Điều 17 Bộ luật Hình sự; Điều 173 Bộ luật Hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH LÂM ĐỒNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 258a/2025/HS-PT
Ngày: 12 - 12 - 2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LÂM ĐỒNG

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Hồng Thái

Các Thẩm phán: Ông Phạm Thái Bình

Bà Nguyễn Thị Hồng Hạnh

- Thư ký phiên tòa: Ông Lê Đức Khang là Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh

Lâm Đồng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lâm Đồng tham gia phiên tòa: Bà

Cao Thị Hường - Kiểm sát viên.

Ngày 12 tháng 12 năm 2025, Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng xét xử phúc

thẩm trực tuyến công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số 255/2025/TLPT-HS

ngày 04 tháng 11 năm 2025 đối với bị cáo Trương Thế T, tại điểm cầu trung tâm

là phòng xét xử trực tuyến của Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng gồm có Hội đồng

xét xử, Thư ký phiên tòa, Kiểm sát viên và điểm cầu thành phần tại Phân trại tạm

giam Đ - Trại tạm giam số 3 Công an tỉnh Lâm Đồng gồm có bị cáo Trương Thế

T, ông Bùi Chí Bảo là Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 17 – Lâm Đồng và cán

bộ, chiến sỹ thuộc Phân trại tạm giam Đ - Trại tạm giam số 3 Công an tỉnh Lâm

Đồng, do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 38/2025/HS-

ST ngày 23 tháng 9 năm 2025 của Tòa án nhân dân khu vực 17 – Lâm Đồng.

- Bị cáo có kháng cáo: Trương Thế T, sinh ngày 01/5/1984, tại tỉnh Đồng

Nai. Nơi cư trú: Khu phố 7, xã X, tỉnh Đồng Nai; nghề nghiệp: lao động tự do;

trình độ văn hóa (học vấn): lớp 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo:

không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trương Văn T9 và bà Phạm Thị H9; Bị cáo

có vợ và 01 con; tiền sự: không;

Tiền án: Ngày 31/7/2023, bị Tòa án nhân dân huyện X, tỉnh Đồng Nai xử

phạt 01 năm 06 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” tại Bản án số

143/2023/HS-ST, chấp hành xong ngày 13/8/2024, chưa xóa án tích.

Nhân thân:

1. Ngày 26/10/2012, bị Công an huyện X, tỉnh Đồng Nai xử phạt vi phạm

hành chính 750.000 đồng về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma tuý” tại Quyết

định xử phạt vi phạm hành chính số 253/QĐ-XPVPHC.

2. Ngày 06/3/2013, bị Ủy ban nhân dân huyện X, tỉnh Đồng Nai ban hành

Quyết định số 482/QĐ-UBND về việc đưa người nghiện ma tuý vào cai nghiện bắt buộc tại Trung tâm Chữa bệnh giáo dục - lao động xã hội tỉnh Đồng Nai, thời gian chấp hành là 24 tháng nhưng bỏ trốn. Đến năm 2020, bị bắt đưa vào cai nghiện và ngày 21/01/2022 chấp hành xong quyết định.

Bị cáo bị bắt tạm giam ngày 04/8/2025, hiện đang bị tạm giam tại Phân trại

tạm giam Đ - Trại tạm giam số 3 Công an tỉnh Lâm Đồng, có mặt tại phiên tòa.

- Ngoài ra, vụ án còn có bị cáo Đinh Văn Như T2 không có kháng cáo và

không bị kháng cáo, kháng nghị.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung

vụ án được tóm tắt như sau:

Theo Bản án sơ thẩm:

Vào khoảng 13 giờ 00 phút ngày 16/5/2025, Đinh Văn Như T2 điều khiển

xe mô tô nhãn hiệu Wave màu vàng, không rõ biển số, mượn của bạn T2 tên N1 nhà ở Thành phố Hồ Chí Minh, chở Trương Thế T lưu thông từ xã X, tỉnh Đồng Nai đến nhà bạn của T2 tên H3 tại xã Tr1, tỉnh Lâm Đồng để chơi, nhưng do H3 không có ở nhà nên cả hai quay về.

Trên đường về đến xã Tr1, tỉnh Lâm Đồng, T2 chở T đi lòng vòng trong

đường làng thuộc khu vực thôn 4, xã Tr1 để chơi. Trên đường đi, T2 phát hiện tại nhà ông Thổ M1 tại địa chỉ số 30, đường số 37, tổ 3, thôn 4, xã Tr1, huyện Đ, tỉnh Bình Thuận (nay là xã Tr1, tỉnh Lâm Đồng) có để 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Sirius màu đen bạc, không có biển số ở trước sân nhà, trên xe cắm sẵn chìa khóa nên T2 nảy sinh ý định trộm cắp chiếc xe. Lúc này, T2 dừng xe ở ngoài đường rồi nói T đứng ở ngoài chờ còn T2 đi bộ một mình lại vị trí để chiếc xe. Sau khi quan sát thấy không có người để ý nên T2 đã mở khóa xe, đồng thời nổ máy và điều khiển chiếc xe này chạy ra chỗ T đang đứng đợi rồi cả hai mỗi người điều khiển một xe mô tô nhanh chóng chạy về hướng xã X, tỉnh Đồng Nai. Trên đường đi đến xã ĐH, huyện Đ, tỉnh Bình Thuận (nay là xã Tr1, tỉnh Lâm Đồng) thì T2 thấy có lực lượng Công an truy đuổi nên điều khiển chiếc xe vừa trộm cắp được rẽ vào một con hẻm thuộc đường số 16, tổ 10, thôn 2A, xã ĐH, huyện Đ, tỉnh Bình Thuận (nay là xã Tr1, tỉnh Lâm Đồng). Trên đường bỏ chạy, T2 bị té ngã nên đã bỏ chiếc xe ở ngoài đường rồi chạy bộ vào bãi đất trống ở gần đó để tẩu thoát. Ngay sau đó, T2 bị lực lượng Công an truy đuổi, bắt giữ, lập biên bản và đưa T2 cùng với chiếc xe mà T2 vừa trộm được về trụ sở để làm việc.

Đối với Trương Thế T: Khi T2 đi vào khu vực sân nhà ông Thổ M1 để trộm

xe thì T điều khiển xe T2 để ngoài đường chạy lên phía trước một đoạn khoảng 5m rồi T dừng xe lại đứng hút thuốc và nhìn vào khu vực T2 đi đến, mục đích là để đợi T2, nếu T2 chiếm đoạt được xe mô tô trên thì T và T2 mỗi người điều khiển 01 xe mô tô cùng về, còn nếu T2 không chiếm đoạt được xe thì T sẽ chở T2 về. Khi T quan sát thấy T2 tiếp cận được chiếc xe máy Sirius, T nghĩ T2 sẽ trộm được chiếc xe này nên T điều khiển xe chạy đi. Khi T chạy đi được khoảng 50m thì thấy

T2 từ phía sau điều khiển một chiếc xe mô tô chạy nhanh hơn vượt qua mặt mình.

T chạy bình thường ở sau T2 thì có 02 người thanh niên cầm gạch đuổi theo đập

01 cái vào sau đầu T. T dừng xe lại ven đường thì hai thanh niên này tiếp tục chạy

lên phía trước đuổi theo T2. Khi hai thanh niên chạy qua được khoảng 20m thì T

tiếp tục tăng ga chạy ra đường lớn rồi rẽ phải chạy về nhà T2 trả xe cho N1.

Tại Kết luận định giá tài sản số 26/KL-HĐĐGTS ngày 19/5/2025 của Hội

đồng định giá trong tố tụng hình sự huyện Đ kết luận:

Giá trị 01 xe mô tô nhãn hiệu Sirius màu đen bạc, không có biển kiểm soát,

số máy: 5C63-058865, số khung: RLCS5C6308Y058865, xe đăng ký ngày

06/7/2012 tại thời điểm định giá là 5.000.000 đồng.

Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 38/2025/HS-ST ngày 23 tháng 9 năm 2025

của Tòa án nhân dân khu vực 17 – Lâm Đồng đã quyết định:

Tuyên bố: Bị cáo Trương Thế T phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Căn cứ vào: Khoản 1 Điều 173, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1

Điều 52, Điều 17, Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung

năm 2017; Luật số 86/2025/QH15 ngày 25/6/2025;

Xử phạt: Trương Thế T 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù. Thời gian chấp hành

hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giam (ngày 04/8/2025).

Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên về hình phạt đối với bị cáo Đinh Văn

Như T2, về án phí và quyền kháng cáo theo luật định.

Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 03/10/2025, bị cáo Trương Thế T kháng cáo

xin giảm nhẹ hình phạt.

Tại phiên tòa phúc thẩm:

- Kiểm sát viên phát biểu quan điểm: Tòa án cấp sơ thẩm đã xem xét, đánh

giá đầy đủ các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự để xử phạt bị cáo

01 năm 03 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình

sự là thỏa đáng, phù hợp với tính chất, mức độ hành vi phạm tội và nhân thân của

bị cáo. Vì vậy, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm a khoản 1 Điều 355 và Điều

356 Bộ luật Tố tụng hình sự, không chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt

của bị cáo, giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số 38/2025/HS-ST ngày 23 tháng

9 năm 2025 của Tòa án nhân dân khu vực 17 – Lâm Đồng.

- Bị cáo giữ nguyên kháng cáo, thừa nhận Tòa án cấp sơ thẩm xét xử bị cáo

về tội “Trộm cấp tài sản” là đúng, không oan, chỉ xin Hội đồng xét xử cấp phúc

thẩm giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được

tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Tại phiên tòa phúc thẩm hôm nay, bị cáo khai nhận hành vi phạm tội

phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, đủ cơ sở để kết luận:

Vào khoảng 13 giờ 00 phút ngày 16/5/2025, Đinh Văn Như T2 điều khiển

xe mô tô hiệu Wave, không rõ biển số, chở Trương Thế T đi đến trước nhà của ông Thổ M1 tại số 30, đường số 37, tổ 3, thôn 4, xã Tr1, huyện Đ, tỉnh Bình Thuận (nay là xã Tr1, tỉnh Lâm Đồng) thì phát hiện trong sân nhà ông M1 có 01 xe mô tô, nhãn hiệu Sirius màu đen bạc, không có biển kiểm soát, số máy: 5C63-058865, số khung: RLCS5C6308Y058865, không có người trông coi nên nảy sinh ý định chiếm đoạt. Lúc này, Trương Thế T ngồi trên xe ở ngoài đợi, còn T2 lén lút đi vào sân nhà của ông Thổ M1 lấy trộm chiếc xe mô tô trị giá 5.000.000 đồng (Theo Kết luận định giá tài sản số 26/KL-HĐĐGTS ngày 19/5/2025 của Hội đồng định giá trong tố tụng hình sự huyện Đ).

[2] Với hành vi phạm tội như trên, xét bị cáo có nhân thân xấu, có 01 tiền

án về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, Tòa án cấp sơ thẩm xử phạt bị cáo 01 năm 03 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” là đúng người, đúng tội, đúng quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự; phù hợp với tính chất, mức độ hành vi phạm tội, nhân thân và vai trò của bị cáo trong đồng phạm. Do đó, Kiểm sát viên đề nghị không chấp nhận kháng cáo của bị cáo là có căn cứ.

[3] Về án phí phúc thẩm: Do kháng cáo không được chấp nhận nên bị cáo

phải chịu án phí hình sự phúc thẩm theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

[4] Các phần khác của Bản án sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị có

hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào: Điểm a khoản 1 Điều 355 và Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình

sự; điểm b khoản 2 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội;

1. Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Trương Thế T; Giữ nguyên Bản

án hình sự sơ thẩm số 38/2025/HS-ST ngày 23 tháng 9 năm 2025 của Tòa án nhân dân khu vực 17 – Lâm Đồng về phần hình phạt đối với bị cáo Trương Thế T.

Tuyên bố: Bị cáo Trương Thế T phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Áp dụng: Khoản 1 Điều 173, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều

52, Điều 17, Điều 38 của Bộ luật Hình sự;

Xử phạt: Bị cáo Trương Thế T 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù, thời hạn tù

tính từ ngày bắt tạm giam (04/8/2025).

2. Về án phí phúc thẩm: Bị cáo Trương Thế T phải chịu 200.000 đồng (Hai

trăm nghìn đồng) án phí hình sự phúc thẩm.

3. Các quyết định khác của Bản án hình sự sơ thẩm số 38/2025/HS-ST ngày

23 tháng 9 năm 2025 của Tòa án nhân dân khu vực 17 – Lâm Đồng không bị kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng

nghị.

4. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án (12/12/2025).

Cỡ chữ