- Tranh chấp gì? "Lê Thị Tuyết A - phạm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản (điều 174 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Không chấp nhận kháng cáo xin gi m nhẹ hình ph t tù c a bị cáo Lê Thị Tuyết A. Giữ nguyên b n án sơ th m s : 22/2019/HS-ST ngày 26/7/2019 c a Tòa án nhân dân huyện TB về phần hình ph t đ i với bị cáo.
- Căn cứ chính? Điều 355 Bộ luật t t ng hình sự; Điều 356 Bộ luật t t ng hình sự; Điều 38 Bộ luật Hình sự
| TỈNH Đ NG THÁP | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| B n án s : 258/2019/HS-PT Ngày 15-10-2019 |
NHÂN DANH
NƯ C CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH Đ NG THÁP
- Thành ph n ội đồng t ph c th m gồm c :
Th m ph n - Ch to phiên toà: Ông Trương Phước Tự
C c Th m ph n: Ông Lê Hồng Nước
Ông Lê Khắc Thịnh
- Thư phiên toà: Bà Nguyễn Hoàng Thanh Trúc – Thư ký Tòa án nhân dân t nh Đồng Tháp.
- i diện iện i m sát nh n d n t nh ồng Tháp tham gia phiên toà: Ông Đỗ Trung Đến - Ki m sát viên.
Ngày 15 tháng 10 năm 2019, t i Tr s Toà án nhân dân t nh Đồng Tháp xét x phúc th m công khai v án hình sự phúc th m th lý s : 226/2019/TLPT-HS ngày 11 tháng 9 năm 2019 đ i với bị cáo Lê Thị Tuyết A do có kháng cáo c a bị cáo đ i với B n án hình sự sơ th m s : 22/2019/HS-ST ngày 26 tháng 7 năm 2019 c a Toà án nhân dân huyện TB.
- Bị c o có kh ng c o:
Lê Thị Tuyết A, sinh năm 1964 t i thành ph CT; HKTT: S 147/64D, Nguyễn Văn C, phường AH, quận NK, thành ph CT; nghề nghiệp: Cho thuê nhà trọ; trình độ học vấn: 05/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Thiên chúa; qu c tịch: Việt Nam; con ông Lê Văn V (chết) và bà Nguyễn Thị H (chết); có chồng và 03 người con; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Năm 1993, bị Tòa án nhân dân thành ph CT x ph t 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài s n”; Năm 2002, bị Tòa án nhân dân thành ph CT x ph t 04 tháng tù về tội “Trộm cắp tài s n”; Ngày 30/5/2014, bị Tòa án nhân dân huyện CL x ph t 01 năm tù về tội “Lừa đ o chiếm đo t tài s n”; T m giữ ngày 19/4/2019; t m giam ngày 25/4/2019 đến ngày 17/6/2019 bị cáo được thay thế biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú. Hiện bị cáo đang t i ngo i, có mặt.
Ngoài ra, trong v n c n có ị h i; những người có quyền lợi, nghĩa v liên quan không kh ng c o và Viện kiểm s t không kh ng nghị.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ v án và diễn biến t i phiên tòa, nội dung v án được tóm tắt như sau:
Vào kho ng tháng 4 năm 2019, Trần Văn D, sinh năm 1964 quê thành ph BL, t nh BL đến thuê phòng trọ do Lê Thị Tuyết A làm ch t i phường AN, thành ph CT. Trong thời gian trọ t i đây, D bàn b c với Tuyết A sẽ tìm đ i tượng đ lừa đ o với cách thức khi gặp người nào có đeo vàng thì D đến gi vờ bắt chuyện, còn Tuyết A sẽ đi l i sau đ thỏa thuận dùng vàng gi đổi lấy vàng thật.
Như đã bàn b c nên kho ng 6 giờ ngày 19/4/2019, D và Tuyết A mỗi người điều khi n một chiếc xe mô tô lưu thông trên Qu c lộ 30 thuộc địa bàn huyện TB hướng đi thị xã HN. Khi đến gần tr s Ủy ban nhân dân huyện TB, t nh ĐT thì thấy ông Lê Thành B, sinh năm 1943 đang đậu xe cặp lề, trên người ông B có đeo nhiều vàng, D liền cặp xe vào bắt chuyện hỏi Ngân hàng đâu đ D đi đổi đô la và vàng. Sau đó, Tuyết A đến hỏi chuyện và kêu ông B nói với ông D đ Tuyết A đổi đô la và vàng. Lúc này, D nói có công chuyện gấp ch đổi vàng thôi, thấy trên người D có đeo 02 nhẫn vàng và sợi dây chuyền. Đ t o lòng tin, Tuyết A lấy 02 nhẫn vàng 24K mỗi chiếc 02 ch nhưng Tuyết A nói mỗi chiếc là 05 ch đưa cho D đổi lấy 01 miếng vàng có in hình 9999 có trọng lượng 10 ch , m c đích nói d i nhằm đánh vào lòng tham c a ông B. D hỏi Tuyết A cho đổi thêm 02 miếng vàng 9999 nữa. Lúc này, Tuyết A mới nói với ông B “cho con mượn s vàng c a ông đi, một lát nữa l i tiệm vàng bán rồi con tr l i, đồng thời cho tiền u ng cà phê” ông B hoàn toàn tin tư ng nên đồng ý và Tuyết A tự tay tháo lấy 02 chiếc nhẫn trọng lượng 03 ch và 01 sợi dây chuyền trọng lượng 04 ch vàng 24K trên người ông B và đưa tất c cho D, sau đó Tuyết A nói với D 02 chiếc nhẫn mỗi chiếc 05 ch , sợi dây chuyền 10 ch , tổng cộng chung là 20 ch vàng 24K, Tuyết A đưa cho ông B 02 miếng vàng 9999 gi đ làm tin. Sau đó, Tuyết A và D điều khi n xe t u thoát. Lúc này, ông B biết mình bị lừa nên đã đuổi theo đến gần cầu ĐVT thuộc ấp T, xã TT, huyện TB thì đuổi kịp xe c a Tuyết A nên ông B ch động đ ng vào xe c a Tuyết A làm cho 02 xe cùng ngã xu ng đường, ông B bắt giữ Tuyết A giao cho công an xã TT làm rõ như nội dung đã trình bày trên.
Theo b n kết luận s 41/KL-HĐ ngày 22/4/2019 c a Hội đồng định giá trong t t ng hình sự huyện TB kết luận: 02 nhẫn tròn trọng lượng 06 ch vàng 24K; 01 sợi dây chuyền trọng lượng 04 ch vàng 24K có tổng giá trị là 35.300.000 đồng.
Đ i với Trần Văn D sau khi ph m tội đã bỏ tr n, khi nào bắt được sẽ x lý sau.
T i b n án hình sự sơ th m s : 22/2019/HS-ST ngày 26/7/2019 c a Tòa án nhân dân huyện Thanh Bình đã quyết định:
Căn cứ kho n 1 Điều 174; đi m b, s kho n 1, kho n 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự
Tuyên b : Bị cáo Lê Thị Tuyết A ph m tội “Lừa đ o chiếm đo t tài s n”.
X ph t: Bị cáo Lê Thị Tuyết A 09 (chín) tháng tù. Thời h n chấp hành hình ph t tù tính từ ngày 19/4/2019.
Ngoài ra, án sơ th m còn tuyên về x lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo b n án theo luật định.
Ngày 06 tháng 8 năm 2019, bị cáo Lê Thị Tuyết A có đơn kháng cáo xin gi m nhẹ hình ph t tù, lý do có hoàn c nh gia đình khó khăn, chồng không có việc làm, bị cáo là lao động chính trong gia đình, sức khỏe không được t t, đã bồi thường đầy đ , người bị h i có đơn bãi n i xin gi m nhẹ hình ph t.
T i phiên tòa, đ i diện Viện ki m sát nhân dân T nh cho rằng mức hình ph t mà cấp sơ th m đã tuyên là đúng với tính chất và mức độ ph m tội mà bị cáo đã thực hiện, quá trình lượng hình đã xem xét hết các tình tiết gi m nhẹ có trong hồ sơ, bị cáo kháng cáo nhưng không xuất trình được tình tiết gi m nhẹ nào mới. Vì vậy, Viện ki m sát đề nghị Hội đồng xét x không chấp nhận kháng cáo xin gi m nhẹ hình ph t tù c a bị cáo, giữ nguyên b n án sơ th m.
Bị cáo không phát bi u tranh luận.
Nói lời sau cùng bị cáo Lê Thị Tuyết A yêu cầu Hội đồng xét x xem xét gi m nhẹ hình ph t tù cho bị cáo, đ sớm hòa nhập cộng đồng.
NH N ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ s nội dung v án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ v án đã được tranh t ng t i phiên tòa, Hội đồng xét x nhận định như sau:
[1] Lê Thị Tuyết Athừa nhận đã cùng với Trần Văn D thực hiện hành vi gian d i đổi vàng gi lấy vàng thật, làm cho ông Lê Thành B tin tư ng đ cho Lê Thị Tuyết A tự tay tháo 02 chiếc nhẫn trọng lượng 03 ch và 01 sợi dây chuyền trọng lượng 04 ch vàng 24K mà ông B đang đeo trên người, s tài s n mà Tuyết A chiếm đo t được có giá là 35.300.000 đồng. Vì vậy, án sơ th m kết tội bị cáo ph m tội “Lừa đ o chiếm đo t tài s n” theo kho n 1 Điều 174 Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, không oan sai đ i với bị cáo. Mức hình ph t 09 tháng tù đ i với bị cáo là đúng với tính chất và mức độ ph m tội mà bị cáo đã gây ra. Xét thấy khi lượng hình cấp sơ th m đã xem xét hết các tình tiết gi m nhẹ mà bị cáo được hư ng, bị cáo không có tiền án, tiền sự, nhưng nhân thân c a bị cáo có 02 lần bị kết án về tội “Trộm cắp tài s n” và một lần bị kết án về tội “Lừa đ o chiếm đo t tài s n” lần ph m tội này bị cáo thực hiện tội ph m hết sức tinh vi, có đồng ph m và cùng đồng ph m bàn b c c th về kế ho ch thực hiện. Hành vi ph m tội c a bị cáo đáng lẽ ra ph i có một mức hình ph t nghiêm khắc hơn nữa mới đ sức răn đe đ i với bị cáo. Tuy nhiên cấp phúc th m không làm xấu đi tình tr ng c a bị cáo khi không có kháng nghị tăng nặng c a Viện ki m sát. Sau khi xét x sơ th m, bị cáo kháng cáo xin gi m nhẹ hình ph t tù với lý do cho rằng hoàn c nh gia đình khó khăn, chồng không có việc làm, bị cáo là lao động chính trong gia đình, sức khỏe không được t t, đây không ph i là tình tiết gi m nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định t i Điều 51 Bộ luật hình sự nên không có cơ s đ xem xét gi m nhẹ hình ph t tù cho bị cáo. Do đó, cần giữ nguyên mức hình ph t tù mà án sơ th m đã tuyên là phù hợp.
[2] Xét thấy quan đi m đề xuất c a Viện ki m sát không chấp nhận kháng cáo c a bị cáo Lê Thị Tuyết A là có căn cứ nên Hội đồng xét x chấp nhận.
[3] Về án phí: Do kháng cáo c a bị cáo không được chấp nhận nên bị cáo ph i chịu án phí hình sự phúc th m.
[4] Các phần khác c a quyết định b n án sơ th m không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực k từ ngày hết thời h n kháng cáo, kháng nghị.
V c c lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ đi m a kho n 1 Điều 355 và Điều 356 Bộ luật t t ng hình sự;
1. Không chấp nhận kháng cáo xin gi m nhẹ hình ph t tù c a bị cáo Lê Thị Tuyết A. Giữ nguyên b n án sơ th m s : 22/2019/HS-ST ngày 26/7/2019 c a Tòa án nhân dân huyện TB về phần hình ph t đ i với bị cáo.
Căn cứ kho n 1 Điều 174; đi m b, s kho n 1, kho n 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự.
Tuyên b bị cáo Lê Thị Tuyết A ph m tội “Lừa đ o chiếm đo t tài s n”.
X ph t bị cáo Lê Thị Tuyết A 09 (Chín) tháng tù. Thời h n chấp hành hình ph t tù tính từ ngày bị cáo đi chấp hành hình ph t, trừ đi thời gian t m giữ, t m giam từ ngày 19/4/2019 đến ngày 17/6/2019.
2. Về án phí:
Bị cáo Lê Thị Tuyết A ph i chịu 200.000đ án phí hình sự phúc th m.
3. Các phần khác c a quyết định b n án sơ th m không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực k từ ngày hết thời h n kháng cáo, kháng nghị.
B n án phúc th m có hiệu lực pháp luật k từ ngày tuyên án.
Nơi nh n:
T TM HỘI Đ NG X T X PH C THẨM
- TANDTC (V GĐ-KT1);
t THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
- VKSND T nh;
- Ban Nội chính T nh y;
(Đã ký)
- S Tư pháp T nh;
Trương Phước Tự
- TAND – VKSND huyện TB;
- Chi c c THADS huyện TB;
- Cơ quan CSĐT CA huyện TB;
- Tr i T m giam Công an T nh;
- Phòng hồ sơ nghiệp v Công an T nh;
- Phòng KTNV-THA TA T nh;
- Bị cáo;
- Lưu: VT, hồ sơ v án (Trúc).