- Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng tín dụng — án dân sự — "Bản án dân sự sơ thẩm"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng TMCP Sài Gòn Thương T đối với bị đơn ông Phạm Ngọc A về việc tranh chấp hợp đồng tín dụng.
- Căn cứ chính? Điều 117 Bộ luật Dân sự; Điều 13 Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP Hướng dẫn áp dụng một số quy đ…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 10 - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 258/2025/DS-ST Ngày: 21/08/2025 V/v: Tranh chấp hợp đồng tín dụng. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 10 – THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Văn Cơ.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Vũ Huy Hoàng.
2. Bà Phan Thị Dòn.
- Thư ký phiên tòa: Ông Đào Văn Long – Thư ký Tòa án của Tòa án nhân dân khu vực 10 – Thành phố Hồ Chí Minh.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 10 – Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Võ Kim Cường – Kiểm sát viên.
Ngày 21 tháng 8 năm 2025, tại phòng xử án của Tòa án nhân dân khu vực 10 – Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 466/2025/TLST-DS ngày 09/6/2025 về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 36/2025/QĐXXST-DS ngày 07/07/2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 75/2025/QĐST-DS ngày 30/7/2025 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ngân hàng TMCP Sài Gòn Thương T; Địa chỉ trụ sở: Số 266-268 Nam Kỳ Khởi Nghĩa, phường Võ Thị S, Quận 3 (nay là Phường Xuân H), Thành phố HCM.
Người đại diện theo pháp luật: Bà Nguyễn Đức Thạch Diễm, chức vụ: Tổng giám đốc.
Người đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Quang Trung Hiếu, sinh năm 1984; Địa chỉ: Số 278 Nam Kỳ Khởi Nghĩa, phường Võ Thị S, Quận 3 (nay là Phường Xuân H), Thành phố HCM.
- Bị đơn: Ông Phạm Ngọc A, sinh năm 1989; Địa chỉ: Số 81B/4 ấp 7, xã An Phú T, huyện Bình Ch (nay là xã Bình Ch), Thành phố HCM.
(Ông Nguyễn Quang Trung Hiếu có mặt; Ông Phạm Ngọc A vắng mặt không có lý do).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện, các bản tự khai, biên bản về việc không tiến hành hòa giải được và tại phiên tòa hôm nay, nguyên đơn Ngân hàng TMCP Sài Gòn Thương T có người đại diện hợp pháp là ông Nguyễn Quang Trung Hiếu trình bày:
Ngày 16/01/2023, ông Phạm Ngọc A có ký với Ngân hàng TMCP Sài Gòn Thương T (gọi tắt là Ngân hàng) Hợp đồng sử dụng Thẻ tín dụng (bao gồm Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng và bản Điều khoản và Điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng– các tài liệu này được gọi chung là Hợp đồng). Căn cứ thu nhập của ông Phạm Ngọc A, Ngân hàng TMCP Sài Gòn Thương T đã đồng ý cấp 3 thẻ tín dụng với hạn mức sử dụng chung là: 75.000.000 đồng, với mục đích tiêu dùng cá nhân, cụ thể như sau:
HẠN
NGÀY KÝ
LÃI SUẤT LOẠI THẺ
SỐ THẺ
MỨC
HỢP ĐỒNG ÁP DỤNG
75.000.000
472074-7155 Visa
16/01/2023
2.48%
Sau khi được cấp Thẻ tín dụng, ông Phạm Ngọc A đã thực hiện các giao dịch với tổng số tiền là: 473.236.800 đồng. Lãi được tính trên từng giao dịch phát sinh theo từng ngày và theo lãi suất Ngân hàng áp dụng vào từng thời điểm khác nhau (Điều 23 của Bản Điều khoản và Điều kiện phát hành sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng). ông Phạm Ngọc A phải chịu các khoản phí theo quy định trong Điều 25 của Bản Điều khoản và Điều kiện phát hành sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng, chi tiết lãi, phí trong sao kê tóm tắt. Trong quá trình sử dụng thẻ, từ ngày kích hoạt thẻ đến nay ông Phạm Ngọc A đã thanh toán cho Ngân hàng số tiền: 402.428.000 đồng (chi tiết các lần thanh toán trong bảng sao kê tóm tắt đính kèm). Tổng số tiền trên được thanh toán áp dụng theo điều 21 của bản Điều khoản và Điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng cụ thể việc thanh toán sẽ được áp dụng theo thứ tự như sau: Các khoản phí và/ hoặc lãi của kỳ trước; Giao dịch rút tiền mặt của kỳ trước; Giao dịch mua hàng hóa của kỳ trước; Các khoản phí và/ hoặc lãi trong kỳ; Giao dịch rút tiền mặt trong kỳ; Giao dịch mua hàng hóa trong kỳ. Qua nhiều lần làm việc, nhắc nhở nhưng ông Phạm Ngọc A vẫn không có thiện chỉ trả nợ. Do ông Ẩn vi phạm nghĩa vụ thanh toán (Điều 24 của Bản Điều khoản và Điều kiện phát hành sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng), ngày 10/12/2023 Ngân hàng đã chấm dứt quyền sử dụng thẻ và chuyển toàn bộ dư nợ còn thiếu sang nợ quá hạn (Điều 24.4 của Bản Điều khoản và điều kiện phát hành sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng). Ngân hàng đã chuyển toàn bộ dư nợ tại thời điểm này là: 87.951.636 đồng làm nợ gốc, áp dụng lãi suất nợ quá hạn (là 150% của lãi suất được công bố và áp dụng tại thời điểm hiện tại). Do ông Phạm Ngọc A vi phạm nghĩa vụ thanh toán theo Điều 24 của Bản Điều khoản và Điều kiện phát hành sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng nên Ngân hàng TMCP Sài Gòn Thương T yêu cầu ông Phạm Ngọc A trả số tiền còn thiếu tính đến ngày: 21/08/2025 là: 163. 444.690 đồng. Cụ thể là: Loại thẻ
Số thẻ
Nợ gốc
Lãi quá hạn
Lãi suất áp dụng
472074 -
3.72% (2.48% x
87,951,636đồng 70,019,389đồng
Visa
7155
150%)
Mặc dù Ngân hàng đã yêu cầu ông Ẩn có trách nhiệm thanh toán, tuy nhiên ông Ẩn vẫn chưa thanh toán khoản nợ vay quá hạn cho Ngân hàng, vi phạm các điều khoản đã qui định tại Hợp đồng đã ký.
Do đó, Ngân hàng TMCP Sài Gòn Thương T đề nghị Tòa án giải quyết các vấn đề sau đây đối với ông Phạm Ngọc A:
Buộc ông Phạm Ngọc A phải trả ngay cho Ngân hàng TMCP Sài Gòn Thương T tổng số tiền tạm tính đến ngày 21/08/2025 là: 163.444.690 đồng (một trăm sáu mươi ba triệu bốn trăm bốn mươi bốn nghìn sáu trăm chín mươi đồng), trong đó: Số nợ gốc là: 87.951.636 đồng; Lãi quá hạn là: 76.493.054 đồng. Đồng thời, buộc ông Phạm Ngọc A có trách nhiệm thanh toán khoản lãi phát sinh từ ngày 22/08/2025 cho đến khi trả dứt nợ vay theo lãi suất quy định tại Hợp đồng.
Bị đơn ông Phạm Ngọc A đã được Tòa án triệu tập hợp lệ, nhưng vẫn vắng mặt trong suốt quá trình Tòa án giải quyết vụ án, không thể hiện ý kiến trước yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 10 - Thành phố Hồ Chí Minh phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và của người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án và phát biểu ý kiến về việc giải quyết vụ án, đề nghị Hội đồng xét xử: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng TMCP Sài Gòn Thương T đối với bị đơn ông Phạm Ngọc A. Bị đơn ông Phạm Ngọc A phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về thẩm quyền giải quyết vụ án: Nguyên đơn Ngân hàng TMCP Sài Gòn Thương T khởi kiện tranh chấp hợp đồng tín dụng đối với bị đơn ông Phạm Ngọc A, ông Phạm Ngọc A có nơi cư trú tại: 81B/4 ấp 7, xã An Phú Tây, huyện Bình Chánh (nay là xã Bình Chánh), Thành phố Hồ Chí Minh nên căn cứ theo quy định tại khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Bình Chánh, thành phố Hồ Chí Minh.
Về sự vắng mặt của đương sự:
Bị đơn là ông Phạm Ngọc A đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai mà vẫn vắng mặt nên Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt ông Phạm Ngọc A theo quy định tại các Điều 227, Điều 228 và Điều 238 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
Về thời hiệu khởi kiện của vụ án: Do không có đương sự nào đề nghị áp dụng thời hiệu, căn cứ quy định tại Điều 184 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án không xem xét về thời hiệu đối với vụ kiện này.
Về áp dụng pháp luật: Do giao dịch dân sự của các bên đương sự đang thực hiện có nội dung và hình thức phù hợp với quy định của Bộ luật dân sự năm 2015 nên Tòa án áp dụng Bộ luật dân sự năm 2015 để giải quyết vụ án.
Xét thấy các tài liệu, chứng cứ do nguyên đơn cung cấp mà bị đơn không có phản đối do đó căn cứ theo quy định tại Điều 92 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 thì nguyên đơn không cần phải chứng minh cho yêu cầu của mình là có căn cứ và hợp pháp. Mặt khác, theo quy định tại khoản 2 và khoản 4 Điều 91 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 thì đương sự phản đối yêu cầu của người khác đối với mình phải chứng minh sự phản đối đó là có căn cứ và phải đưa ra chứng cứ để chứng minh. Đương sự có nghĩa vụ đưa ra chứng cứ để chứng minh mà không đưa ra được chứng cứ hoặc không đưa ra đầy đủ chứng cứ thì phải chịu hậu quả của việc không chứng minh được hoặc chứng minh không đầy đủ đó. Ông Phạm Ngọc A vắng mặt không lý do trong suốt quá trình giải quyết vụ án nên ông Phạm Ngọc A từ bỏ nghĩa vụ chứng minh của mình.
Vì vậy, Hội đồng xét xử căn cứ các tài liệu, chứng cứ do nguyên đơn cung cấp để xét xử vụ án là phù hợp với quy định của pháp luật. Theo nội dung hợp đồng mà phía nguyên đơn cung cấp và lời trình bày của người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn là ông Nguyễn Quang Trung Hiếu thì ngày 16/01/2023, ông Phạm Ngọc A có ký với Ngân hàng TMCP Sài Gòn Thương T hợp đồng sử dụng Thẻ tín dụng, hạn mức tín dụng là: 75.000.000 đồng, với mục đích tiêu dùng cá nhân, lãi suất là 2.48%/tháng (lãi suất trong hạn). Sau khi được cấp Thẻ tín dụng, ông Phạm Ngọc A đã thực hiện các giao dịch với tổng số tiền là: 473.236.800 đồng. Trong quá trình sử dụng thẻ, từ ngày kích hoạt thẻ đến nay ông Phạm Ngọc A đã thanh toán cho Ngân hàng số tiền: 402.428.000đồng. Như vậy, nội dung hợp đồng mà các bên xác lập thể hiện sự thỏa thuận tự nguyện của các bên và không trái quy định pháp luật nên có hiệu lực, phù hợp với các quy định tại Điều 117, Điều 463 của Bộ Luật dân sự năm 2015.
Mặc dù phía Ngân hàng đã nhiều lần làm việc, nhắc nhở nhưng ông Phạm Ngọc A vẫn không có thiện chí trả nợ. Do ông Phạm Ngọc A vi phạm nghĩa vụ thanh toán (Điều 24 của Bản Điều khoản và Điều kiện phát hành sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng), ngày 10/12/2023 Ngân hàng đã chấm dứt quyền sử dụng thẻ và chuyển toàn bộ dư nợ còn thiếu sang nợ quá hạn (Điều 24.4 của Bản Điều khoản và điều kiện phát hành sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng).
Tính đến ngày 21/08/2025, ông Phạm Ngọc A còn nợ Ngân hàng TMCP Sài Gòn Thương T các khoản sau: nợ gốc là: 87.951.636 đồng; Lãi quá hạn là: 76.493.054 đồng, tổng cộng là: 163.444.690 đồng (một trăm sáu mươi ba triệu bốn trăm bốn mươi bốn nghìn sáu trăm chín mươi đồng).
Số tiền lãi quá hạn được tính trên số tiền nợ gốc: 87.951.636 đồng với lãi suất quá hạn là: 3.72%/tháng (2.48%/tháng x 150%) từ ngày Ngân hàng TMCP Sài Gòn Thương T chấm dứt quyền sử dụng thẻ và chuyển toàn bộ dư nợ còn thiếu sang nợ quá hạn cho đến hiện tại. Ngân hàng đã chuyển toàn bộ dư nợ tại thời điểm này là: 87.951.636 đồng làm nợ gốc, áp dụng lãi suất nợ quá hạn là 150% của lãi suất được công bố và áp dụng tại thời điểm hiện tại.
Nay Ngân hàng TMCP Sài Gòn Thương T đề nghị Tòa giải quyết những vấn đề sau đây đối với bị đơn ông Phạm Ngọc A:
Buộc ông Phạm Ngọc A phải trả ngay một lần cho Ngân hàng tổng số tiền tạm tính đến ngày 21/08/2025 là: 163.444.690 đồng (một trăm sáu mươi ba triệu bốn trăm bốn mươi bốn nghìn sáu trăm chín mươi đồng), trong đó số nợ gốc là: 87.951.636 đồng; Lãi quá hạn là: 76.493.054 đồng. Đồng thời, ông Phạm Ngọc A có trách nhiệm thanh toán khoản lãi phát sinh từ ngày 22/08/2025 cho đến khi trả dứt nợ vay theo lãi suất quy định tại Hợp đồng.
Hội đồng xét xử xét thấy, bị đơn ông Phạm Ngọc A vắng mặt trong suốt quá trình giải quyết vụ án mặc dù đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng; yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn và tài liệu chứng cứ chứng minh cho yêu cầu khởi kiện đã được Tòa án thông báo cho ông Phạm Ngọc A biết nhưng đến tại phiên tòa hôm nay ông Phạm Ngọc A không có văn bản gì thể hiện ý kiến của mình về yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Căn cứ vào giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng của ông Phạm Ngọc A ký với nội dung yêu cầu Ngân hàng TMCP Sài Gòn Thương T phát hành thẻ với hạn mức tín dụng là 75.000.000 đồng. Từ giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng, Ngân hàng TMCP Sài Gòn Thương T đã cấp thẻ tín dụng cho Ông Phạm Ngọc A với hạn mức tín dụng là: 75.000.000đ (bảy mươi lăm triệu đồng). Quá trình sử dụng thẻ tín dụng, nhiều lần Ngân hàng yêu cầu ông Phạm Ngọc A thanh toán nợ nhưng ông Phạm Ngọc A không thực hiện, do đó ngày 10/12/2023, Ngân hàng đã chuyển toàn bộ dư nợ còn thiếu sang nợ quá hạn.
Căn cứ vào các điều khoản và điều kiện sử dụng thẻ ký giữa ông Phạm Ngọc A với Ngân hàng TMCP Sài Gòn Thương T và căn cứ vào quy định tại Khoản 1 Điều 466 của Bộ luật dân sự năm 2015 và các Điều 91 và Điều 95 và 98 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010, đối chiếu quy định như trên thì yêu cầu của Ngân hàng TMCP Sài Gòn Thương T buộc ông Phạm Ngọc A phải trả ngay một lần cho Ngân hàng tổng số tiền tạm tính đến ngày 21/08/2025 là: 163.444.690 đồng (một trăm sáu mươi ba triệu bốn trăm bốn mươi bốn nghìn sáu trăm chín mươi đồng), trong đó số nợ gốc là: 87.951.636 đồng; Lãi quá hạn là: 76.493.054 đồng. Đồng thời, buộc ông Phạm Ngọc A có trách nhiệm thanh toán khoản lãi phát sinh từ ngày 22/08/2025 cho đến khi trả dứt nợ vay theo lãi suất quy định tại Hợp đồng, là có căn cứ, Hội đồng xét xử xét thấy có cơ sở chấp nhận.
Từ những phân tích và nhận định trên, Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng TMCP Sài Gòn Thương T. Buộc bị đơn ông Phạm Ngọc A trả ngay cho Ngân hàng TMCP Sài Gòn Thương T tổng số tiền tính đến ngày 21/08/2025 là: 163.444.690 đồng (một trăm sáu mươi ba triệu bốn trăm bốn mươi bốn nghìn sáu trăm chín mươi đồng), trong đó: Số nợ gốc là: 87.951.636 đồng; Lãi quá hạn là: 76.493.054 đồng.
Căn cứ Điều 13 Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 có quy định “Đối với trường hợp chậm thực hiện nghĩa vụ trong hợp đồng mà các bên có thỏa thuận về việc trả lãi thì quyết định kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất các bên thỏa thuận nhưng phải phù hợp với quy định của pháp luật”. Do đó, yêu cầu của nguyên đơn về việc buộc Ông Phạm Ngọc A tiếp tục chịu lãi phát sinh sau khi xét xử là có cơ sở chấp nhận.
Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
Về án phí: Theo quy định tại khoản 1 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 và Khoản 2 Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án thì ông Phạm Ngọc A phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là: 8.172.235 đồng (tám triệu một trăm bảy mươi hai nghìn hai trăm ba mươi lăm đồng); nguyên đơn Ngân hàng TMCP Sài Gòn Thương T được nhận lại số tiền tạm ứng án phí đã nộp.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 2 Điều 91, khoản 2 Điều 92, khoản 1 Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 238 và Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;
Căn cứ Điều 117, Điều 463; Khoản 1 Điều 466; Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015;
Căn cứ Điều 91 và Điều 95 và Điều 98 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010;
Căn cứ Điều 26 Luật Thi hành án dân sự năm 2008 (sửa đổi bổ sung năm 2014);
Căn cứ Điều 13 Nghị quyết số: 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao;
Căn cứ Khoản 2 Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng TMCP Sài Gòn Thương T đối với bị đơn ông Phạm Ngọc A về việc tranh chấp hợp đồng tín dụng.
2. Buộc bị đơn ông Phạm Ngọc A có trách nhiệm trả cho nguyên đơn Ngân hàng TMCP Sài Gòn Thương T tổng cộng số tiền tính đến ngày 21/08/2025 là: 163.444.690 đồng (một trăm sáu mươi ba triệu bốn trăm bốn mươi bốn nghìn sáu trăm chín mươi đồng), trong đó số nợ gốc là: 87.951.636 đồng; lãi quá hạn là: 76.493.054 đồng, trả một lần ngay khi bản án có hiệu lực.
Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm (ngày 22/8/2025), ông Phạm Ngọc A còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi quá hạn của số tiền nợ gốc chưa thanh toán, theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận tại hợp đồng cho đến khi thanh toán xong khoản nợ gốc này.
3. Về án phí dân sự sơ thẩm:
- Bị đơn ông Phạm Ngọc A phải chịu án phí dân sự sơ thẩm số tiền là: 8.172.235 đồng (tám triệu một trăm bảy mươi hai nghìn hai trăm ba mươi lăm đồng).
- Hoàn lại cho nguyên đơn Ngân hàng TMCP Sài Gòn Thương T số tiền tạm ứng án phí là: 2.810.313đồng (hai triệu tám trăm mười nghìn ba trăm mười ba đồng) theo biên lai thu tạm ứng án phí số: 0036516 ngày 22/10/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh (nay là: Thi hành án dân sự Thành phố Hồ Chí Minh).
4. Về quyền kháng cáo: Đương sự có mặt tại phiên tòa có quyền làm đơn kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Riêng đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ hoặc được niêm yết theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự.
5. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nơi nhận:
- TAND Thành phố Hồ Chí Minh;
- VKSND Thành phố Hồ Chí Minh;
- VKSND KV10 – Thành phố Hồ Chí Minh;
- THADS Thành phố Hồ Chí Minh;
- Các đương sự;
- Lưu hồ sơ vụ án.
Lê Văn Cơ TÒA ÁN NHÂN DÂN CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
KHU VỰC 10 -
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
BIÊN BẢN NGHỊ ÁN
Vào hồi giờ phút ngày 21/8/2025, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Bình chánh, Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Văn Cơ.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Phan Thị Dòn
2. Ông Vũ Huy Hoàng
Tiến hành nghị án vụ án dân sự thụ lý số: 466/2025/TLST-DS ngày 09/6/2025 về việc: “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” giữa:
- Nguyên đơn: Ngân hàng TMCP Sài Gòn Thương T; Địa chỉ trụ sở: Số 266-268 Nam Kỳ Khởi Nghĩa, phường Võ Thị Sáu, quận 3 (nay là Phường Xuân Hòa), Thành phố Hồ Chí Minh.
Người đại diện theo pháp luật: Bà Nguyễn Đức Thạch Diễm, chức vụ: Tổng giám đốc.
Người đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Quang Trung Hiếu, sinh năm 1984; Địa chỉ: Số 278 Nam Kỳ Khởi Nghĩa, phường Võ Thị Sáu, Quận 3 (nay là Phường Xuân Hòa), Thành phố Hồ Chí Minh.
- Bị đơn: Ông Phạm Ngọc A, sinh năm 1989; Địa chỉ: Số 81B/4 ấp 7, xã An Phú Tây, huyện Bình Chánh (nay là xã Bình Chánh), Thành phố Hồ Chí Minh.
Căn cứ vào taøi lieäu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, các quy định cuûa pháp luật.
HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẢO LUẬN, BIỂU QUYẾT,
QUYẾT ĐỊNH CÁC VẤN ĐỀ CỦA VỤ ÁN NHƯ SAU
Căn cứ khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 2 Điều 91, khoản 2 Điều 92, khoản 1 Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 238 và Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;
Căn cứ Điều 117, Điều 463; Khoản 1 Điều 466; Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015;
Căn cứ Điều 91 và Điều 95 và Điều 98 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010;
Căn cứ Điều 26 Luật Thi hành án dân sự năm 2008 (sửa đổi bổ sung năm 2014);
Căn cứ Điều 13 Nghị quyết số: 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao;
Căn cứ Khoản 2 Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng TMCP Sài Gòn Thương T đối với bị đơn ông Phạm Ngọc A về việc tranh chấp hợp đồng tín dụng.
2. Buộc bị đơn ông Phạm Ngọc A có trách nhiệm trả cho nguyên đơn Ngân hàng TMCP Sài Gòn Thương T tổng cộng số tiền tính đến ngày 21/08/2025 là: 163.444.690 đồng (một trăm sáu mươi ba triệu bốn trăm bốn mươi bốn nghìn sáu trăm chín mươi đồng), trong đó số nợ gốc là: 87.951.636 đồng; lãi quá hạn là: 76.493.054 đồng, trả một lần ngay khi bản án có hiệu lực.
Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm (ngày 22/8/2025), ông Phạm Ngọc A còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi quá hạn của số tiền nợ gốc chưa thanh toán, theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận tại hợp đồng cho đến khi thanh toán xong khoản nợ gốc này.
3. Về án phí dân sự sơ thẩm:
- Bị đơn ông Phạm Ngọc A phải chịu án phí dân sự sơ thẩm số tiền là: 8.172.235 đồng (tám triệu một trăm bảy mươi hai nghìn hai trăm ba mươi lăm đồng).
- Hoàn lại cho nguyên đơn Ngân hàng TMCP Sài Gòn Thương T số tiền tạm ứng án phí là: 2.810.313đồng (hai triệu tám trăm mười nghìn ba trăm mười ba đồng) theo biên lai thu tạm ứng án phí số: 0036516 ngày 22/10/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh (nay là: Thi hành án dân sự Thành phố Hồ Chí Minh).
4. Về quyền kháng cáo: Đương sự có mặt tại phiên tòa có quyền làm đơn kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Riêng đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ hoặc được niêm yết theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự.
5. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Biểu quyết 3/3 trên từng vấn đề
Nghị án kết thúc vào hồi giờ phút cùng ngày.
Biên bản nghị án đã được đọc lại cho tất cả thành viên Hội đồng xét xử cùng nghe và ký tên dưới đây. THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNGXÉT XỬ
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Lê Văn Cơ
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
| Nơi nhận: - TAND Thành phố Hồ Chí Minh; - VKSND Thành phố Hồ Chí Minh; - VKSND KV10 – Thành phố Hồ Chí Minh; - THADS Thành phố Hồ Chí Minh; - Các đương sự; - Lưu hồ sơ vụ án. | Lê Văn Cơ |