- Tranh chấp gì? án hình sự — "Bị cáo Hồ Văn H phạm tội "Trộm cắp tài sản" - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Hồ Văn H (tên gọi khác: T) phạm tội “Trộm cắp tài sản”;
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HUẾ TỈNH THỪA THIÊN HUẾ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 258/2023/HS-ST Ngày: 05 – 9 – 2023. . |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HUẾ, TỈNH THỪA THIÊN HUẾ
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Phương Hồng.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Hồ Lâm Phúc và bà Trần Thị Ngọc Quyên.
- Thư ký phiên toà: Bà Huỳnh Thị Thanh Thúy, Thư ký Toà án Nhân dân thành phố Huế, tỉnh Thừa Thiên Huế.
- Đại diện Viện Kiểm sát Nhân dân thành phố Huế, tỉnh Thừa Thiên Huế tham gia phiên tòa: Ông Phạm Thành Trung – Kiểm sát viên.
Trong ngày 05 tháng 9 năm 2023, tại trụ sở Tòa án Nhân dân thành phố Huế tỉnh Thừa Thiên Huế, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 229/2023/TLST-HS ngày 31 tháng 7 năm 2023, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 227/2023/QĐXXST-HS ngày 21 tháng 8 năm 2023, đối với bị cáo:
Hồ Văn H (tên gọi khác: T), sinh ngày 05/5/1968 tại tỉnh Thừa Thiên Huế; Nơi cư trú: 10 T1, phường P, thành phố H1, tỉnh Thừa Thiên Huế; nghề nghiệp: Không; Trình độ văn hóa: Không biết chữ; Dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Hồ Văn T2 (đã chết) và bà Hà Thị L, sinh năm 1944; Có Vợ là Đinh Thị Ngọc D, sinh năm 1977, con: có 01 con sinh năm 2009; tiền sự: Không; tiền án: Không.
Về nhân thân:
- Ngày 25/5/1988, bị Toà án Nhân dân thành phố Huế xử phạt 18 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” theo Bản án số 41/1988/HSST.
- Ngày 24/01/1992, bị Toà án Nhân dân thành phố Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa xử phạt 30 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” theo Bản án số 143/1992/HSST.
- Ngày 23/3/2000, bị Công an thành phố Huế xử phạt vi phạm hành chính với số tiền 100.000 đồng về hành vi đánh bạc theo Quyết định số 6015/XP-VPHC.
- Ngày 20/01/2005, bị Ủy ban Nhân dân tỉnh Thừa Thiên Huế ra Quyết định đưa vào Trường giáo dưỡng thời hạn 24 tháng theo Quyết định số 403/QĐ-UB.
- Ngày 23/9/2010, bị Toà án Nhân dân thành phố Huế xử phạt 01 năm 03 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” theo Bản án số 160/2010/HSST.
- Ngày 31/8/2012, bị Toà án Nhân dân thành phố Huế xử phạt 12 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” theo Bản án số 184/2012/HSST.
- Ngày 24/3/2016, bị Toà án Nhân dân thành phố Huế xử phạt 09 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” theo Bản án số 63/2016/HSST. Ngày 07/8/2016, chấp hành xong án phạt tù.
Bị cáo bị tạm giam từ ngày 15/4/2023 đến nay tại Nhà tạm giữ Công an thành phố Huế; có mặt.
- Bị hại: Chị Nguyễn Thị P1, sinh năm 1995. Nơi cư trú: 23/44 D1, phường A, thành phố H1, tỉnh Thừa Thiên Huế; vắng mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:
1. Anh Phan Văn V, sinh năm 1992. Nơi cư trú: 05 T1, phường P, thành phố H1, tỉnh Thừa Thiên Huế; có mặt.
2. Ông Nguyễn Đình D2, sinh năm 1969; Nơi cư trú: 3/34 T1, phường P, thành phố H1; có mặt.
- Người làm chứng: Chị Nguyễn Thị H2, sinh năm 1985; Nơi cư trú: 05 T1, phường P, thành phố H1, tỉnh Thừa Thiên Huế; có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 14 giờ 22 phút ngày 13/4/2023, Hồ Văn H điều khiển xe mô tô mang biển số 75F1-1067, màu xanh nhãn hiệu Wave đến quầy cắt tóc của chị Nguyễn Thị P1, là chủ tiệm tại địa chỉ số 147 Đ, phường A, thành phố H1. H dừng xe trước tiệm rồi lén lút đi vào tiệm cắt tóc. H quan sát xung quanh thấy chị P1 đang nằm ngủ ở ghế phía sau màn chắn. H đi đến vén màn kiểm tra thì không có tài sản gì nên H đi vòng qua phía trước đầu nằm của chị P1, phát hiện trên kệ phía trên đầu nằm có 01 điện thoại di động IPhone 11 Pro Max. H lén lút lấy trộm điện thoại, rồi lên xe máy đi về quầy điện thoại của anh Phan Văn V tại số 05 T1, phường P, thành phố H1. Khi vào tiệm, H nói bán xác máy điện thoại IPhone 11 ProMax, vì máy bị khóa. Sau khi trao đổi, anh Vững mua với giá 3.000.000 đồng.
Tại bản Kết luận định giá tài sản số 74/KL-HĐĐGTS ngày 15/04/2023, Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố H1, kết luận: 01 (một) điện thoại I Phone 11 ProMax, màu xám đen, Imei 1:352850113128195; Imei 2: 352850113162970 máy đã qua sử dụng, trị giá 6.000.000 đồng.
* Vật chứng thu giữ:
- 01 (một) điện thoại I Phone 11 ProMax, màu xám đen, Imei 1:352850113128195; Imei 2: 352850113162970 máy đã qua sử dụng;
- 01 (một) xe mô tô hiệu WANA màu xanh, biển số 75F4-1067;
- 01 (một) áo sơ mi màu đen, tay dài “LOIUS VUITION”, “LV”;
- 01 (một) quần Jean màu xanh có chiều dài 110cm, chiều rộng 38cm;
- 01 (một) đôi dép màu đen, trên đế dép có in chữ “Tuấn”;
- 700.000 đồng (Bảy trăm nghìn đồng).
* Xử lý vật chứng: Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố H1 đã ra Quyết định xử lý vật chứng trả lại tài sản cho chủ sở hữu, cụ thể:
- Trả lại cho chị Nguyễn Thị P1: 01 (một) điện thoại I Phone 11 ProMax, màu xám đen, Imei 1: 352850113128195; Imei 2: 352850113162970 máy đã qua sử dụng.
- Trả cho anh Phan Văn V số tiền 700.000 đồng (Bảy trăm nghìn đồng)
* Về trách nhiệm dân sự: Chị Nguyễn Thị P1 đã nhận lại tài sản và không yêu cầu Hùng phải bồi thường thiệt hại. Cơ quan điều tra đã trả cho anh V số tiền 700.000 đồng và ông Nguyễn Đình D2 là em rể của H đã bồi thường cho anh V số tiền 2.300.000 đồng, ông D2 không yêu cầu H phải trả lại số tiền này. Anh Phan Văn V đã nhận lại số tiền 3.000.000 đồng và không yêu cầu gì thêm.
Tại bản Cáo trạng số 245/CT-VKSTPH ngày 28/7/2023, Viện Kiểm sát Nhân dân thành phố Huế, tỉnh Thừa Thiên Huế đã truy tố bị cáo Hồ Văn H về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự; sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Tại phiên tòa, đại diện Viện Kiểm sát Nhân dân thành phố Huế, tỉnh Thừa Thiên Huế giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 173; các điểm b, s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật hình sự năm 2015; Xử phạt bị cáo Hồ Văn Hùng từ 09 (chín) đến 12 (mười hai) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù kể từ ngày bắt tạm giam 15/4/2023. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Về trách nhiệm dân sự: Bị hại và những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án không yêu cầu về dân sự nên đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét.
Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự; đề nghị Hội đồng xét xử tuyên xử:
- Tịch thu sung công quỹ Nhà nước: 01 (Một) xe mô tô hiệu Ware màu xanh, biển kiểm soát: 75F4-1067.
- Tịch thu tiêu hủy: 01 (Một) áo sơ mi bằng vải màu đen, tay dài, trên ngực trái có thêu chữ “LOIUS VUITION”, “LV”; 01 (Một) quần Jean màu xanh có chiều dài 110 cm, chiều rộng 38 cm; 01 (Một) đôi dép màu đen, trên đế dép có in chữ “Tuấn”.
Về án phí: Buộc bị cáo phải chịu theo quy định của pháp luật.
Bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo rất ăn năn, hối hận về hành vi phạm tội của mình và mong Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Tại phiên tòa, bị hại chị Nguyễn Thị P1 đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vẫn vắng mặt. Quá trình điều tra chị P1 đã có lời khai rõ ràng về các tình tiết của vụ án, đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu bồi thường gì, việc vắng mặt chị P1 không ảnh hưởng đến việc giải quyết vụ án nên HĐXX căn cứ vào Điều 292 của Bộ luật tố tụng hình sự xét xử vắng mặt bị hại.
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Điều tra Công an thành phố Huế; Điều tra viên; Viện Kiểm sát Nhân dân thành phố Huế; Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự.
Xét hành vi của bị cáo Hồ Văn H thấy rằng: Vào lúc 14 giờ 22 phút ngày 13/04/2023, tại địa chỉ số 147 Đ, phường A, thành phố H1, Hồ Văn H đã có hành vi lén lút lấy trộm của chị Nguyễn Thị P1 01 điện thoại I Phone 11 ProMax, màu xám đen có trị giá 6.000.000 đồng.
Xét lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra; phù hợp lời khai của bị hại, những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người làm chứng và các tài liệu chứng cứ trong hồ sơ vụ án. Bị cáo Hồ Văn H là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự; nhận thức được hành vi chiếm đoạt tài sản của người khác là phạm tội nhưng vẫn cố ý thực hiện; tài sản bị cáo trộm cắp có giá trị 6.000.000 đồng nên đã phạm vào tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự. Viện Kiểm sát Nhân dân thành phố Huế đã truy tố bị cáo Hồ Văn H và lời buộc tội của Kiểm sát viên tại phiên toà là có căn cứ, đúng người, đúng tội và phù hợp với quy định của pháp luật.
Xét các căn cứ quyết định hình phạt, Hội đồng xét xử thấy rằng: Hành vi của bị cáo Hồ Văn H là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ, gây mất trật tự trị an tại địa phương. Bị cáo không phạm vào tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào. Bị cáo đã tác động gia đình bồi thường khắc phục hậu quả; quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo có thái độ thành khẩn khai báo nên được hưởng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại các điểm b, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Xét loại hình phạt và mức hình phạt áp dụng đối với bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy rằng: Bị cáo Hồ Văn H có nhân thân rất xấu, từng bị phạt tù nhiều lần về tội “trộm cắp tài sản” nhưng bị cáo không chịu cải tạo để trở thành công dân tốt mà còn tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội nên cần áp dụng hình phạt tù, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian mới có tác dụng răn đe bị cáo và phòng ngừa chung cho xã hội. Mức hình phạt như đề nghị của đại diện Viện Kiểm sát Nhân dân thành phố Huế là phù hợp. Xét bị cáo không có nghề nghiệp, hiện đang bị tạm giam nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Về xử lý vật chứng:
Đối với 01 (Một) xe mô tô hiệu Ware màu xanh, biển kiểm soát 75F4-1067 mà bị cáo Hồ Văn H sử dụng làm phương tiện thực hiện hành vi phạm tội. Quá trình điều tra làm rõ, xe này ông D2 (em rể của bị cáo H) đã bán cho bị cáo H làm phương tiện đi lại, thuộc sở hữu của H nên cần tịch thu sung công quỹ Nhà nước.
Đối với 01 (Một) áo sơ mi bằng vải màu đen, tay dài, trên ngực trái có thêu chữ “LOIUS VUITION”, “LV”; 01 (Một) quần Jean màu xanh có chiều dài 110cm, chiều rộng 38 cm; 01 (Một) đôi dép màu đen, trên đế dép có in chữ “Tuấn” thu giữ của H, là trang phục H mặc trên người khi thực hiện hành vi phạm tội, là những chứng cứ chứng minh H phạm tội, có giá trị sử dụng nhỏ, bị cáo Hùng không yêu cầu nhận lại nên cần tịch thu tiêu hủy.
Về trách nhiệm dân sự: Bị hại và những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không yêu cầu bồi thường về dân sự nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.
Các vấn đề khác: Đối với anh Phan Văn V là người mua điện thoại di động nhãn hiệu IPhone 11 ProMax, màu xám đen với giá 3.000.000 đồng, khi mua anh Vững không biết đây là tài sản do H phạm tội mà có nên hành vi của anh V không phạm vào tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”.
Về án phí hình sự sơ thẩm: Buộc bị cáo phải chịu 200.000 đồng.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố bị cáo Hồ Văn H (tên gọi khác: T) phạm tội “Trộm cắp tài sản”;
Áp dụng khoản 1 Điều 173; các điểm b, s khoản 1 Điều 51 và Điều 38 của Bộ luật hình sự năm 2015; sửa đổi, bổ sung năm 2017; tuyên:
Xử phạt: Bị cáo Hồ Văn H (tên gọi khác: T) 09 (chín) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù kể từ ngày bắt tạm giam 15/4/2023. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
2. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự, tuyên xử:
- Tịch thu sung công quỹ Nhà nước: 01 (Một) xe mô tô hiệu Ware màu xanh, biển kiểm soát: 75F4-1067.
- Tịch thu tiêu hủy: 01 (Một) áo sơ mi bằng vải màu đen, tay dài, trên ngực trái có thêu chữ “LOIUS VUITION”; “LV”; 01 (Một) quần Jean màu xanh có chiều dài 110 cm, chiều rộng 38 cm; 01 (Một) đôi dép màu đen, trên đế dép có in chữ “Tuấn”.
(Các vật chứng trên có đặc điểm như mô tả trong biên bản giao nhận vật chứng ngày 28/7/2023 giữa Cơ quan điều tra Công an thành phố Huế và Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Huế).
3. Về án phí: Căn cứ Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội khóa 14 quy định về mức thu, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí lệ phí Tòa án; tuyên xử: Buộc bị cáo Hồ Văn H phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
4. Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Thừa Thiên Huế; - VKSND thành phố Huế; - Sở Tư pháp tỉnh Thừa Thiên Huế; - CQĐT thành phố Huế; - CQ THAHS thành phố Huế; - Chi cục THADS thành phố Huế; - Bị cáo; - Bị hại; - Người có QLNVLQ; - Lưu hồ sơ vụ án. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM CÁC HỘI THẨM NHÂN DÂN | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Thị Phương Hồng THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Thị Phương Hồng |