vanban.org

Bản án 258/2019/HSST — Hình sự

TAND TP. Vinh, tỉnh Nghệ An Tuyên án 14/06/2019 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn P phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Về án phí: Căn cứ vào điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; điều 23 Nghị quyết 326 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Toà án buộc bị cáo Nguyễn Văn P phải chịu 200.000 đồng tiền án phí HSST. Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bị cáo được quyền kháng cáo lên Toà …

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Văn P - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn P phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật hình sự xử phạt; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 173 Bộ luật hình sự xử phạt
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VINH
TỈNH NGHỆ AN
*****

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 258/2019/HSST
Ngày: 14/6/2019

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VINH

Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: ông Trần Huy Long

Các hội thẩm nhân dân: ông Nguyễn Công Thẩm và bà Phạm Thị Tố Tâm

Thư ký phiên toà: bà Cao Trà My – Thư ký Toà án nhân dân thành phố Vinh.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Vinh: bà Đậu Thị Hoài, kiểm sát viên.

Ngày 14/6/2019, tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 242/2019/HSST ngày 24/5/2019 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 287 ngày 03/6/2019 đối với bị cáo:

Họ và tên: Nguyễn Văn P; Sinh ngày 02 tháng 9 năm 1969; Nơi đăng ký HKTT: khối 18, phường L, thành phố V, N; Tạm trú tại: Xóm 8, xã N, thành phố V, tỉnh N; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hoá: 12/12; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Nguyễn Văn V; Con bà: Đặng Thị B; Vợ: Nguyễn Thị V và có 02 con; Tiền án, tiền sự: không; Nhân thân: Ngày 26/9/1996, bị Tòa án nhân dân thành phố Vinh xử phạt 06 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thử thách 12 tháng về tội “Gây rối trật tự công cộng”; Ngày 10/11/1999, bị Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An xử phạt 08 năm tù về tội “Cưỡng đoạt tài sản của công dân”, chấp hành xong hình phạt ngày 29/4/2005; Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 07/3/2019 đến ngày 16/3/2019; Hiện tại ngoại; Có mặt tại phiên toà.

- Người bị hại: Anh Hoàng Mạnh T; Sinh năm 1985; Trú tại: xóm 20, xã N, TP. V, tỉnh N. Vắng mặt.

- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: Anh Hoàng Đình P; Sinh năm 1972: Trú tại: xóm M, xã H, TP. V, tỉnh N. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 19 giờ 30 phút ngày 06/3/2019, Nguyễn Văn P đi xe máy từ nhà tại xóm 8, xã N, TP V, tỉnh N đến trước quán cà phê 377, Đại lộ Lê Nin thuộc xóm 14, xã Nghi Phú, TP Vinh, tỉnh Nghệ An thì phát hiện 02 chiếc máy ép nước mía và 01 chiếc xe đẩy có giàn treo bán quần áo để bên vỉa hè cạnh quán cà phê 377 thuộc sở hữu của anh Hoàng Mạnh T. Quan sát không có người trông coi nên P nảy sinh ý định trộm cắp. P gọi điện thoại nói anh Hoàng Đình P lên quán cà phê 377 chở đồ P bán. Khoảng 15 phút sau thì anh P đưa xe máy kéo đến và đưa tài sản nói trên về cửa hàng sắt vụn của mình tại xóm M, xã H, TP V, tỉnh N. Khoảng 07 giờ ngày 07/03/2019, P đến cửa hàng nhờ anh P tháo 02 mô tơ của máy ép nước mía và đáy của xe đẩy đưa về nhà dùng, còn lại 02 vỏ máy ép nước mía và khung giàn treo bán cho anh P được 750.000 đồng. Sau khi bị mất, người bị hại là anh T đã lên trình báo tại Công an xã Nghi Phú, TP Vinh, tỉnh Nghệ An. Biết mình vi phạm pháp luật và sự việc đã bị phát hiện nên vào hồi 12 giờ 30 phút ngày 07/03/2019, Nguyễn Văn P đã ra đầu thú tại công an xã Nghi Phú, thành phố Vinh giao nộp lại số tiền 750.000 đồng và 02 chiếc mô tơ của máy ép nước mía và đáy xe đẩy bán quần áo.

Tại bản kết luận định giá số 36/KLĐG ngày 13/03/2019 của Hội đồng định giá tài sản UBND TP.Vinh kết luận: 02 chiếc xe nước mía bằng inox đã qua sử dụng có giá trị 2.000.000 đồng; 01 chiếc xe kéo để hàng bằng sắt đã qua sử dụng có giá trị 500.000 đồng.

Tại bản cáo trạng số 165/VKS-HS ngày 02/4/2019 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Vinh đã truy tố Nguyễn Văn P về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 điều 173 Bộ luật hình sự.

Tại phiên toà hôm nay đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Vinh giữ nguyên quan điểm như Cáo trạng truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử xử phạt bị cáo Nguyễn Văn P từ 12 đến 15 tháng cải tạo không giam giữ về tội “Trộm cắp tài sản”.

Bị cáo không tranh luận gì mà chỉ xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

. Về tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra Công an thành phố Vinh, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Vinh, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

. Về nội dung: Tại phiên toà, bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung Bản cáo trạng đã truy tố là đúng.

Xét lời khai của bị cáo phù hợp với các chứng cứ khác đã được thẩm tra, tranh tụng tại phiên toà. Như vậy, có cơ sở để kết luận: Khoảng 19 giờ 30 phút ngày 06/3/2019, tại vỉa hè trước quán cà phê 377, Đại lộ Lê Nin, thuộc xóm 14, xã Nghi Phú, thành phố Vinh, lợi dụng sự sơ hở của người bị hại, bị cáo đã có hành vi lén lút chiếm đoạt 02 chiếc máy ép nước mía và 01 xe đẩy bán quần áo của anh Hoàng Mạnh T có tổng giá trị 2.500.000 đồng. Như vậy, hành vi của bị cáo đã phạm vào tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 điều 173 Bộ luật hình sự như bản cáo trạng truy tố là có căn cứ và đúng pháp luật.

Xét hành vi phạm tội của bị cáo là ít nghiêm trọng nhưng nguy hiểm cho xã hội, gây ảnh hưởng đến trật tự an toàn xã hội, xâm phạm đến quyền sỡ hữu hợp pháp của người bị hại được pháp luật bảo vệ nên cần xét xử nghiêm minh đối với bị cáo.

Tuy nhiên, trong quá trình điều tra, truy tố và xét xử bị cáo đã thành khẩn khai báo, tỏ ra ăn năn hối cải, bị cáo tự nguyện ra đầu thú và giao nộp số tiền thu lợi bất chính để trả lại cho người mua tài sản chiếm đoạt, đã bồi thường thiệt hại cho người bị hại, người bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, anh trai bị cáo là người có công với nhà nước... nên cần xem xét để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo. Bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ, có nơi cư trú rõ ràng nên chỉ cần xử phạt bị cáo cải tạo không giam giữ cũng đủ tác dụng cải tạo, giáo dục đối với bị cáo. Bị cáo có hoàn cảnh khó khăn, thu nhập không ổn định nên cần miễn khấu trừ thu nhập cho bị cáo.

Về dân sự: Bị cáo đã bồi thường thiệt hại cho người bị hại và giao nộp để trả lại cho người có quyền và nghĩa vụ liên quan số tiền bán tài sản chiếm đoạt. Người bị hại và Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan không có yêu cầu gì thêm về phần dân sự nên miễn xét.

Đối với anh Hoàng Đình P là người mua tài sản do bị cáo chiếm đoạt nhưng anh Phương không biết nguồn gốc tài sản do phạm tội mà có nên không phạm tội.

Bị cáo phải chịu án phí HSST theo luật định.

Bởi các lẽ trên

QUYẾT ĐỊNH

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn P phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Căn cứ vào khoản 1 điều 173; điểm b, s khoản 1, khoản 2 điều 51; điều 36 Bộ luật hình sự xử phạt: Bị cáo Nguyễn Văn P 12 tháng cải tạo không giam giữ nhưng được trừ thời gian bị bắt tạm giữ 10 ngày(bằng 30 ngày cải tạo không giam giữ), buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt còn lại là 11 tháng cải tạo không giam giữ. Thời hạn cải tạo không giam giữ tính từ ngày cơ quan tổ chức được giao giám sát, giáo dục người bị kết án nhận được quyết định thi hành án và bản sao bản án. Giao bị cáo cho UBND xã Nghi Đức, thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian cải tạo không giam giữ, gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo.

Về án phí: Căn cứ vào điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; điều 23 Nghị quyết 326 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Toà án buộc bị cáo Nguyễn Văn P phải chịu 200.000 đồng tiền án phí HSST.

Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bị cáo được quyền kháng cáo lên Toà án nhân dân tỉnh Nghệ An. Người bị hại người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ/.

Cỡ chữ