- Tranh chấp gì? án hình sự — "Lò Thị Hịa - Tnagf trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Lò Thị H phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Bộ luật Tố tụng hình sự; Bộ luật Hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐB | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH ĐIỆN BIÊN Bản án số: 258/2018/HSST. Ngày: 16/11/2018. |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐB TỈNH ĐIỆN BIÊN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Lường Văn Lương.
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Lò Văn Ơn;
2. Ông Lường Văn Hịa.
- Thư ký phiên toà: Ông Vũ Đình Hiếu - Thư ký Toà án nhân dân huyện ĐB.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện ĐB, tỉnh Điện Biên tham gia phiên toà: Ông Đỗ Thành Đạt - Kiểm sát viên.
Ngày 16/11/2018, tại trụ sở Ủy ban nhân dân xã TL, huyện ĐB, tỉnh Điện Biên xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 261/2018/TLST-HS ngày 19/10/2018, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 266/2018/QĐXXST-HS ngày 02/11/2018 đối với bị cáo:
Họ và tên: Lò Thị H, tên gọi khác: Không, sinh năm: 1972, tại Điện Biên.
Trú tại: Đội 8C, xã TL, huyện ĐB, tỉnh Điện Biên.
Nơi ĐKHKTT: Đội 8C, xã TL, huyện ĐB, tỉnh Điện Biên.
Nghề nghiệp: Làm ruộng; Trình độ học vấn: Không; dân tộc: Thái; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Lò Văn H. (đã chết) và bà: Lò Thị P. (đã chết); có chồng: Cà Văn T, sinh năm 1972 và 03 con, con lớn sinh năm 1992, con nhỏ sinh năm: 1996; tiền án: Không; tiền sự: Không; nhân thân: Bị cáo đã có 01 án tích đã được xóa, không bị xử lý hành chính; bị bắt từ ngày 07/9/2018 "có mặt".
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 10 giờ ngày 07/9/2018, bị cáo đi bộ từ nhà ở đội 8C, xã TL, huyện ĐB bị cáo lên khu vực đầu bản HP, xã TL, với mục đích đi tìm mua ma túy về sử dụng. Bị cáo gặp và mua được 01 gói Heroine với giá 500.000 đồng của một người đàn ông dân tộc Thái khoảng 40 tuổi, không biết tên, địa chỉ. Sau đó, bị cáo mở ra xem rồi gói lại như cũ và mang về nhà dùng tay cấu chia gói Heroine ra làm 3 gói để sử dụng dần. Một gói Heroine bị cáo cất giấu ở dưới chân tủ nhà bị cáo, 01 gói Heroine bị cáo cất giấu ở dưới đệm giường ngủ của bị cáo, còn 01 gói bị cáo cất giấu trong túi quần bên trái bị cáo đang mặc. Hồi 15 giờ cùng ngày, khi bị cáo đang ở nhà thì bị tổ công tác Công an huyện ĐB phối hợp với Đồn biên phòng TL và Công an xã TL phát hiện bắt quả tang, thu giữ 01 gói Heroine do bị cáo đang cất giấu trong túi quần bên trái. Hồi 16 giờ 15 phút cùng ngày, Cơ quan điều tra Công an huyện ĐB tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ ở cua bị cáo, thu giữ ở dưới chân tủ nhà bị cáo 01 gói Heroine; thu giữ ở dưới đệm ngủ của bị cáo 01 gói Heroine.
Tại biên bản mở niêm phong, xác định khối lượng ngày 07/9/2018 đã xác định:
Số chất bột màu trắng thu giữ của bị cáo có khối lượng là 1,64 gam;
Tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên.
Tại bản kết luận giám định số: 789/GĐ – PC54 ngày 17/9/2018, Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Điện Biên đã kết luận:
Mẫu chất bột màu trắng được trích từ vật chứng thu giữ của Lò Thị H gửi giám định là Heroine;
Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại gì về kết luận của Hội đồng giám định nêu trên.
Tại bản cáo trạng số: 206/CT-VKSHĐB ngày 18/10/2018, Viện kiểm sát nhân dân huyện ĐB đã truy tố bị cáo Lò Thị H về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249/BLHS.
Tại phiên tòa, đại diện VKSND huyện ĐB vẫn giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo về tội danh, đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249/BLHS, điểm s khoản 1 Điều 51/BLHS. Đề nghị xử phạt bị cáo từ 27 tháng đến 30 tháng tù về tội tàng trữ trái phép chất ma túy. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo. Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47/BLHS, điểm a khoản 2 Điều 106/BLTTHS về xử lý vật chứng. Bị cáo phải chịu 200.000đ án phí HSST.
Lời nói sau cùng của bị cáo: Tôi biết hành vi của tôi là vi phạm pháp luật, tôi nhận tội và xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Công an huyện ĐB, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện ĐB, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Tại phiên tòa hôm nay bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, đúng như nội dung bản cáo trạng của Viện kiểm sát đã truy tố đối với bị cáo. Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với các chứng cứ và tài liệu có trong hồ sơ vụ án.
. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, làm ảnh hưởng đến trật tự trị an, an toàn xã hội; đã xâm phạm đến các quy định của Nhà nước về quản lý các chất ma túy. Bởi vì, ma túy là một hiểm họa của nhân loại, đồng thời ma túy cũng là nguyên nhân của nhiều loại tội phạm khác. Chính vì thế mà Nhà nước ta đã nghiêm cấm mọi hành vi có liên quan đến ma túy. Nếu bị phát hiện Nhà nước sẽ xử lý nghiêm khắc theo quy định của pháp luật. Bị cáo nhận thức được tác hại của ma tuý, nhận thức được hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật, song bị cáo vẫn cố tình thực hiện. Nên cần phải xử lý bị cáo theo quy định của pháp luật.
Hành vi cất giấu 1,64 gam Heroine, với mục đích để sử dụng của bị cáo, nên Viện kiểm sát nhân dân huyện ĐB đã truy tố bị cáo về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249/BLHS là đúng người, đúng tội, có căn cứ pháp luật.
. Xét về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo HĐXX thấy rằng: Do không có ý thức rèn luyện bản thân, bị cáo đã nghiện ma túy. Ngày 14/9/2009 bị cáo bị Tòa án nhân dân huyện ĐB xử phạt 24 tháng tù về tội "Mua bán trái phép chất ma túy", nay đã được xóa án tích.
Ngày 07/9/2018 bị cáo phạm tội trong vụ án này và bị bắt cho đến nay.
Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, nhưng bị cáo có nhân thân không tốt.
Trong quá trình điều tra, truy tố và xét xử bị cáo đã thành khẩn khai báo. Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51/BLHS.
Để cải tạo bị cáo trở thành người có ích cho gia đình và xã hội, Hội đồng xét xử xét thấy cần phải áp dụng hình phạt tù có thời hạn, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian.
. Ngoài hình phạt chính là phạt tù thì bị cáo còn có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung theo quy định tại khoản 5 Điều 249/BLHS là phạt tiền từ năm triệu đồng đến năm trăm triệu đồng, tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản. Nhưng xét thấy bị cáo là đối tượng nghiện ma túy, không có khả năng thi hành. Cho nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
. Còn đối với người đàn ông, khoảng 40 tuổi theo bị cáo khai đã bán ma túy cho bị cáo, do bị cáo không biết tên và địa chỉ, nên CQĐT không xác minh làm rõ được.
. Vật chứng của vụ án là 1,64 gam Heroine, gửi giám định 0,23 gam (không hoàn lại mẫu vật sau khi giám định) cần bị tịch thu, tiêu huỷ theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 47/BLHS và điểm a khoản 2 Điều 106/BLTTHS.
. Bị cáo phải chịu 200.000đ án phí HSST.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố: Bị cáo Lò Thị H phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
2. Áp dụng: Điểm c khoản 1 Điều 249/BLHS; điểm s khoản 1 Điều 51/BLHS xử phạt bị cáo Lò Thị H 30 tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo bị bắt ngày 07/9/2018.
3. Áp dụng: Điểm c khoản 1 Điều 47/BLHS; điểm a khoản 2 Điều 106/BLTTHS: Tịch thu, tiêu hủy 1,64 gam Heroine, gửi giám định 0,23 gam (không hoàn lại mẫu vật sau khi giám định).
(Vật chứng đã được công an huyện ĐB chuyển cho chi cục thi hành án dân sự huyện ĐB ngày 24/10/2018).
4. Án phí: Áp dụng Điều 136/BLTTHS; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 về án phí, lệ phí Tòa án, bị cáo phải chịu 200.000đ án phí HSST.
5. Bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - TAND T Điện Biên - VKSND H ĐB - VKS tỉnh ĐB. - CQĐTCA H Điện Biên - Phòng HNVCA T Điện Biên - Sở TP Điện Biên - THA HS tỉnh ĐB. - Nhà tạm giữ CAHĐB; - Chi cục THADSHĐB; - Bị cáo. - Lưu. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lƣờng Văn Lƣơng |