- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly Hôn"
- Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự Tòa án; Nghị quyết số 97/2015/QH13 Về chất vấn và trả lời chất vấn t…; Luật Phí và lệ phí
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA TỈNH ĐỒNG NAI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 258/2018/HNGĐ_ST Ngày: 17/8/2018 V/v: Tranh chấp ly hôn |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA, TỈNH ĐỒNG NAI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Đỗ Minh Nhựt
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Trương Thị Thìn – Cán bộ hưu trí
2. Bà Huỳnh Thị Kim Kiên – Cán bộ Hội liên Hiệp phụ nữ Tp.Biên Hòa
- Thư ký phiên tòa: Bà Phan Thị Thu Thương – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Đông - Kiểm sát viên.
Ngày 17 tháng 8 năm 2018, tại Hội trường 06 – Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 562/2018/TLST-HNGĐ ngày 22 tháng 03 năm 2018 về tranh chấp ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 287/2018/QĐXXST-HNGĐ ngày 13 tháng 7 năm 2018 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Trà X, sinh năm 1989
Địa chỉ: 29, Trương Quyền, Kp.02, P.Tân Mai, Tp.Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai.
2. Bị đơn: Ông Lương Xuân Y, sinh năm 1991
Địa chỉ: Tổ 34, Kp.4B, P.Trảng Dài, Tp.Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai.
(Bà X xin vắng mặt, ông Y vắng mặt không lý do)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện, bản tự khai nguyên đơn bà Nguyễn Thị Trà X trình bày: Trên cơ sở tự nguyện và sau thời gian tìm hiểu nhau, năm 2016 bà cùng ông Lương Xuân Y tự nguyện kết hôn. Ngày 18/01/2016, UBND xã Yên Thọ, huyện Như Thanh, tỉnh Thanh Hóa đã cấp giấy chứng nhận đăng ký kết hôn số 09/2016 cho bà và ông Y. Từ khi kết hôn, vợ chồng thường xuyên cãi, bất đồng quan điểm nên cuộc sống không hạnh phúc. Nguyên nhân chính phát sinh mâu thuẫn là do vợ chồng không hòa hợp về tính tình. Nay bà xác định không còn tình cảm gì với ông Y nên đề nghị Tòa án giải quyết cho bà được ly hôn với ông Y.
Về con chung: Có 01 con chung là Lương Xuân Hải Anh, sinh ngày 07/6/2017. Khi ly hôn bà X yêu cầu trực tiếp nuôi dưỡng con chung, yêu cầu ông Y cấp dưỡng nuôi con với số tiền là 3.000.000đ/tháng (Ba triệu đồng/tháng). Ngày 23/5/2018, bà X thay đổi yêu cầu về phần cấp dưỡng nuôi con, cụ thể bà không yêu cầu ông Y cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung, nợ chung của vợ chồng khi ly hôn bà X xác định là không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tòa án đã tiến hành tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng theo quy định tuy nhiên ông Lương Xuân Y không thực hiện các nghĩa vụ của đương sự theo quy định tại Điều 70 Bộ luật tố tụng dân sự, không đến Tòa án làm việc nên không có ý kiến của của ông Y về việc giải quyết vụ án.
Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai:
Về việc tuân thủ quy định của thẩm phán, thư ký, hội đồng xét xử; việc chấp hành pháp luật của nguyên đơn là đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
Việc chấp hành pháp luật của bị đơn là không đúng quy định tại các Điều 70, Điều 72 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Về đường lối giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
1. Về quan hệ pháp luật, tư cách đương sự và thẩm quyền giải quyết:
- Nguyên đơn bà Nguyễn Thị Trà X khởi kiện yêu cầu tòa án giải quyết cho bà được ly hôn với ông Lương Xuân Y đối chiếu Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình xác định quan hệ pháp luật của vụ án là tranh chấp ly hôn. Căn cứ vào Điều 68 Bộ luật tố tụng dân sự xác định bà X là nguyên đơn, ông Y là bị đơn trong vụ án.
- Bị đơn ông Y có đăng ký tạm trú tại phường Trảng Dài, thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai. Căn cứ các điều 28, 35, 39 Bộ luật tố tụng dân sự xác định vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai.
2. Về thủ tục tố tụng khác: Nguyên đơn bà X có đơn xin xét xử vắng mặt, bị đơn ông Y đã được Tòa án tiến hành triệu tập hợp lệ đến tham dự phiên tòa lần thứ hai mà vẫn vắng mặt, không có lý do; căn cứ khoản 01, điểm b khoản 02 Điều 227, Điều 238 Bộ luật tố tụng dân sự Tòa án tiến hành xét xử theo thủ tục vắng mặt tất cả những người tham gia tố tụng.
3. Nội dung vụ án:
- Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thị Trà X và ông Lương Xuân Y tự nguyện kết hôn, có làm thủ tục đăng ký kết hôn và đã được UBND xã Yên Thọ, huyện Như Thanh, tỉnh Thanh Hóa đã cấp giấy chứng nhận đăng ký kết hôn số 09/2016, ngày 18/01/2016 nên được xác định là quan hệ hôn nhân hợp pháp. Bà X xác định tình cảm vợ chồng có nhiều mâu thuẫn kể từ khi kết hôn cho đến nay. Bà xác định không còn tình cảm với ông Y nên bà cương quyết đề nghị Tòa án giải quyết cho bà ly hôn với ông Y. Theo biên bản xác minh ngày 12/7/2018tại địa phương nơi bà X ông Y sinh sống, địa phương xác định không nắm được tình hình mâu thuẫn giữa vợ chồng bà X, ông Y. Tuy nhiên, Tòa án đã tiến hành tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng nhưng ông Y không đến Tòa án làm việc không thực hiện nghĩa vụ của bị đơn, cũng như không có ý kiến gì, từ đó cho thấy ông Y có ý bỏ mặc việc Tòa án giải quyết quan hệ hôn nhân giữa hai người. Do đó, yêu cầu xin ly hôn của bà X là có cơ sở chấp nhận.
Về con chung: Có 01 con chung là Lương Xuân Hải Anh, sinh ngày 07/6/2017, còn dưới 36 tháng tuổi, hiện do bà X chăm sóc nuôi dưỡng. Do đó, việc bà X yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng con chung, không yêu cầu ông Y cấp dưỡng nuôi con là có cơ sở chấp nhận.
Về tài sản chung, nợ chung của vợ chồng khi ly hôn, bà X xác định là không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết. Tuy nhiên, do ông Y không có ý kiến nên không thể xác thực về tài sản chung và nợ chung của vợ chồng, do đó các đương sự được quyền khởi kiện đối với phần này bằng một vụ án khác khi có yêu cầu.
- Về án phí: Bà Nguyễn Thị Trà X phải chịu án phí Hôn nhân gia đình sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH;
Căn cứ vào các điều 28, 35, 39, 68, 227, 266 Bộ luật tố tụng dân sự;
Áp dụng các điều 51, 56, 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình;
Áp dụng Luật phí và lệ phí số 97/2015/QH13 ngày 25/11/2015; Nghị quyết 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị Trà X đối với bị đơn ông Lương Xuân Y về việc tranh chấp ly hôn.
Tuyên xử:
Bà Nguyễn Thị Trà X, sinh năm 1989 được ly hôn với ông Lương Xuân Y, sinh năm 1991.
Về con chung: Giao con chung là Lương Xuân Hải Anh, sinh ngày 07/6/2017 cho bà X trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng. Ông Lương Xuân Y không phải cấp dưỡng nuôi con.
Ông Y được quyền thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung không ai được quyền ngăn cản. Trong trường hợp cần thiết, một trong các bên có quyền xin thay đổi người trực tiếp nuôi con, cũng như mức cấp dưỡng nuôi con theo quy định.
Về tài sản chung, nợ chung của vợ chồng khi ly hôn các đương sự được quyền khởi kiện bằng vụ án khác khi có yêu cầu.
Về án phí: Bà Nguyễn Thị Trà X phải chịu 300.000đ (Ba trăm ngàn đồng) án phí Hôn nhân gia đình sơ thẩm nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000đ (Ba trăm ngàn đồng) đã nộp theo biên lai thu số 007162 ngày 20/3/2018 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Biên Hòa. Bà X đã nộp đủ án phí theo quy định.
Bà X, ông Y được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày tròn kể từ ngày được tống đạt hợp lệ bản án.
TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Đồng Nai; - VKSND Tp. Biên Hòa; - Chi cục THADS Tp.Biên Hòa - UBND X.Yên Thọ - Đương sự; - Lưu hồ sơ vụ án. | THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đỗ Minh Nhựt |