vanban.org

Bản án 257 — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Chị Nguyễn Thị Hải Y được ly hôn với anh Lê Đình Tr"
  • Căn cứ chính? Nghị quyết số 01/2024/NQ-HĐTP Hướng dẫn áp dụng một số quy đ…; Điều 123 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 51 Luật Hôn nhân và gia đình
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH HÀ TĨNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

n án s : 257/2025/HNGĐ-ST
Ngày: 30 - 9 – 2025
“V/v: Tranh chấp hôn nhân gia đình”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÀ TĨNH

- hành h n H

ng t

th m g m

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông ùi Minh Thư

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Đình Hoài

Ông Nguyễn Văn Đức

- hư ký h ên tòa: Bà Lê Hồng Na - Thư ký tòa án nhân dân tỉnh Hà Tĩnh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hà ĩnh tham g a h ên toà: Bà Phạm Thị Hòa - Kiểm sát viên.

Ngày 30 tháng 9 năm 2025 tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Hà Tĩnh mở phiên toà xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân gia đình thụ lý s 161/2025/TLST- HNGĐ ngày 26 tháng 5 năm 2025 về việc “Tranh chấp hôn nhân và gia đình”. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm s : 237/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 08 tháng 9 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa s : 202/2025/QĐST-HNGĐ ngày 23 tháng 9 năm 2025, gi a các đương s :

Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị H i Y , sinh năm 1996; Địa chỉ: Thôn Q, xã Th, huyện Đ, tỉnh Hà Tĩnh (nay là Thôn Q, xã Đ, tỉnh Hà Tĩnh) (Vắng mặt và có đơn xin xét xử vắng mặt).

Bị đơn: Anh Lê Đình Tr , sinh năm 1988; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Thôn Q, xã Th, huyện Đ, tỉnh Hà Tĩnh (nay là Thôn Q, xã Đ, tỉnh Hà Tĩnh). Hiện đang lao động tại Đ (Vắng mặt).

NỘI DUNG V ÁN:

Theo đơn khởi kiện, bản tự khai và các tài liệu c tại h ơ v án chị Nguyễn Thị Hải Y trình bày:

- Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị H i Y và anh Lê Đình Tr được t do tìm hiểu, đi đến hôn nhân t nguyện, có đăng ký kết hôn với nhau vào ngày 31/7/2015 tại Uỷ ban nhân dân xã Đức Thanh, huyện Đ , tỉnh Hà Tĩnh (nay là Ủy ban nhân dân xã Đức Thịnh, tỉnh Hà Tĩnh). Sau khi kết hôn cuộc s ng vợ chồng hạnh phúc đến kho ng năm 2020 thì vợ chồng thường xuyên cãi vã do bất đồng quan điểm s ng, tính tình không hòa hợp. Kho ng năm 2021 thì anh Lê Đình Tr đi Đài Loan cho đến nay chưa về Việt Nam và cũng từ đó vợ chồng không còn liên lạc với nhau, anh Tr chỉ gọi về gặp con. Nay nhận thấy tình c m vợ chồng không còn, hôn nhân không có hạnh phúc và không mong mu n duy trì cuộc s ng hôn nhân với anh Tr nên chị Nguyễn Thị H i Y yêu cầu Tòa án gi i quyết cho chị được ly hôn anh Lê Đình Tr .

- Về con chung: Vợ chồng có với nhau 02 con chung là cháu Lê Nguyễn B o Ng, sinh ngày 24/02/2016 và cháu Lê B o A, sinh ngày 13/02/2018. Từ khi anh Tr đi nước ngoài đến nay các con đều s ng cùng với chị Nguyễn Thị H i Y . Nay ly hôn chị Y có nguyện vọng được tr c tiếp chăm sóc và nuôi dưỡng các con chung đến tuổi trưởng thành và không yêu cầu anh Tr ph i cấp dưỡng nuôi con.

- Về tài s n chung, nợ chung: Chị Nguyễn Thị H i Y không yêu cầu Toà án gi i quyết.

Kết quả xác minh tại địa phương nơi anh Lê Đình Tr từng sinh sống trước khi xuất cảnh thể hiện:

- Tại Biên b n xác minh ngày 24/6/2025, tại của anh Lê Đình Tr tại thôn Quang Tiến, xã Th, huyện Đ, tỉnh Hà Tĩnh (nay là xã Đ, tỉnh Hà Tĩnh) với s chứng kiến của bà Bùi Thị Ng, sinh năm 1963 (mẹ đẻ của anh Tr ) và chính quyền địa phương thể hiện:

Chị Y và anh Tr đã đăng ký kết hôn với nhau vào ngày 31/7/2015 tại Uỷ ban nhân dân xã Đức Thanh, huyện Đ , tỉnh Hà Tĩnh (nay là Ủy ban nhân dân xã Đức Thịnh, tỉnh Hà Tĩnh), sau khi kết hôn chị Y và anh Tr s ng chung với nhau tại nhà b mẹ chồng ở thôn Q, xã Th, huyện Đ, tỉnh Hà Tĩnh. Quá trình chung s ng vợ chồng s ng hòa thuận, hạnh phúc không thấy có mâu thuẫn gì. Đến năm 2021 thì chị Y đi xuất khẩu lao động tại Đ, vì mu n gi gìn hạnh phúc gia đình nên năm 2022 anh Tr sang Đ với chị Y . Cu i năm 2023 thì chị Y về Việt Nam còn anh Tr vẫn lao động ở Đ đến nay chưa về, từ đó hai vợ chồng x y ra mâu thuẫn.

Chị Y và anh Tr có với nhau 02 con chung là cháu Lê Nguyễn B o Ng, sinh ngày 24/02/2016 và cháu Lê B o A, sinh ngày 13/02/2018. Hiện nay c hai cháu đều đang s ng chung với chị Y tại nhà bà ngoại ở thôn Đại Liên, xã Thanh Bình Thịnh, huyện Đ , tỉnh Hà Tĩnh. Hiện nay anh Tr vẫn ở Đài Loan nhưng gia đình không biết địa chỉ cụ thể của anh Tr ở nước ngoài. Bà Nguyên cho biết anh Tr vẫn thường xuyên gọi điện về và đã biết việc Tòa án đang gi i quyết vụ án ly hôn gi a anh Tr và chị Y và đã gọi điện thông báo với bà Nguyên. Tuy nhiên do ở xa nên anh Tr không về Việt Nam để gi i quyết vụ án được. Đồng thời, bà Nguyên cam kết sẽ nhận và thông báo cho anh Tr được biết về các văn b n t tụng mà Tòa án gửi cho anh.

- Tại biên b n ghi nhận s việc ngày 30/6/2025 Tòa án làm việc với anh Lê Đình Tr thông qua cuộc gọi hình nh bằng tài kho n messenger có tên “Lê o An” có s chứng kiến của chị Nguyễn Thị Mai, sinh năm 1995 (là chị dâu của anh Tr ), bà Bùi Thị Nguyên, sinh năm 1963 (là mẹ đẻ của anh Tr ) và chính quyền địa phương thể hiện: Anh Tr th ng nhất với chị Y về việc kết hôn tuy nhiên anh Tr không đồng ý ly hôn. Về mâu thuẫn anh cho biết từ năm 2023 khi chị Y về nước còn anh vẫn ở Đài Loan làm việc thì vợ chồng phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân do chị Y thay đổi dẫn đến vợ chồng cãi vã và không còn hòa hợp. Về con chung anh Tr th ng nhất có 02 con chung là cháu Lê Nguyễn B o Ngân, sinh ngày 24/02/2016 và cháu Lê B o An, sinh ngày 13/02/2018. Nay ly hôn anh có nguyện vọng được nuôi c hai cháu, nếu không được thì anh có nguyện vọng nuôi cháu Lê B o An cho đến khi con đủ 18 tuổi và không yêu cầu chị Y ph i cấp dưỡng nuôi con. Trong thời gian anh Tr chưa về nước tạm thời giao con chung cho bà Bùi Thị Nguyên (mẹ đẻ của anh Tr ) nuôi dưỡng. Anh Tr không cung cấp được địa chỉ cụ thể của anh ở Đài Loan và không thể về Việt Nam gi i quyết vụ án được nên anh đồng ý để mẹ đẻ là bà Bùi Thị Nguyên nhận các văn b n t tụng thay anh Tr và xin được vắng mặt trong toàn bộ quá trình gi i quyết vụ án.

- Tại Công văn s 2566/2025/CV-TA ngày 11/8/2025 của Tòa án nhân dân tỉnh Hà Tĩnh gửi an đ i ngoại Đài tiếng nói Việt Nam về việc nhắn tin thông báo cho người Việt Nam ở nước ngoài với nội dung: Tòa án nhân dân tỉnh Hà Tĩnh đề nghị an đ i ngoại Đài tiếng nói Việt Nam nhắn tin cho anh Lê Đình Tr về thời gian có mặt để gi i quyết vụ án. an đ i ngoại - Đài tiếng nói Việt Nam đã đăng tin trên trang VOV5 về nội dung nhắn tin như trên từ ngày 11 đến ngày 13/8/2025.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Tĩnh sau khi nhận xét việc chấp hành pháp luật của Thẩm phán, Thư ký và các đương s đã phân tích nội dung vụ việc, các vấn đề đương s đã thỏa thuận th ng nhất được với nhau đã đề nghị Tòa án áp dụng kho n 1 Điều 51, Điều 56, 57, 81, 82, 83, 123 Luật Hôn nhân gia đình năm 2014, kho n 1 Điều 28; điểm a kho n 1 Điều 37, Điều 39, kho n 4 Điều 147 Bộ Luật T tụng dân s năm 2015; kho n 1 Điều 10 Nghị quyết s 01/2024/NQ-HĐTP ngày 16/5/2024 của Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân t i cao; điểm a kho n 5 Điều 27 Nghị quyết s 326/U TVQH14 ngày 30/12/2016 của U TV Qu c hội khóa XIV, cụ thể:

- Về tình c m: Chị Nguyễn Thị H i Y được ly hôn anh Lê Đình Tr .

- Về con chung: Giao cháu Lê Nguyễn o Ngân, sinh ngày 24/02/2016 và cháu Lê o An, sinh ngày 13/02/2018 cho chị Nguyễn Thị H i Y tr c tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Anh Lê Đình Tr không ph i đóng góp cấp dưỡng nuôi con và anh Tr được quyền đi lại thăm nom con chung, không ai được phép c n trở.

- Về án phí: Chị Nguyễn Thị H i Y ph i chịu án phí ly hôn sơ thẩm.

NH N Đ NH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu c tại h ơ v án được thẩm tra tại phiên tòa, ý kiến của đại diện Viện kiểm át; Hội đ ng xét xử nh n định:

[1] Về thủ tục t tụng: Anh Lê Đình Tr đang sinh s ng và làm việc tại Đài Loan, không có địa chỉ cụ thể. Tòa án đã tiến hành xác minh tại địa phương nơi anh Tr từng sinh s ng nhưng không thu thập được địa chỉ cụ thể hiện tại của anh Tr ở nước ngoài.

Tại Công văn s 817/QLXNC-Đ1 ngày 23/6/2025 của Phòng qu n lý Xuất nhập c nh Công an tỉnh Hà Tĩnh thể hiện: Anh Lê Đình Tr xuất c nh ngày 01/7/2022 qua Sân bay Qu c tế N, không thấy thông tin nhập c nh về nước. Do đó Tòa án đã th c hiện nhắn tin trên kênh VOV5 là kênh dành cho người Việt Nam ở nước ngoài nhưng cho đến nay anh Lê Đình Tr vẫn không có mặt tại Tòa án để làm việc cũng như gửi văn b n trình bày ý kiến của anh đ i với yêu cầu xin ly hôn, nuôi con của chị Y đ i với anh. Vì vậy, đây thuộc trường hợp bị đơn c tình che giấu địa chỉ và Tòa án đưa vụ án ra xét xử theo thủ tục chung được quy định tại Điều 37 Bộ Luật T tụng dân s ; kho n 1 Điều 10 Nghị quyết 01/2024/NQ-HĐTP ngày 16/5/2024 của Tòa án nhân dân T i cao.

Tại phiên tòa, các đương s đều vắng mặt, trong đó chị Nguyễn Thị H i Y có đơn xin xét xử vắng mặt nên Hội đồng xét xử căn cứ điểm b kho n 2 Điều 227, kho n 1 Điều 228 Bộ luật t tụng dân s xét xử vắng mặt chị Nguyễn Thị H i Y và anh Lê Đình Tr theo quy định.

[2] Về nội dung:

[2.1] Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị H i Y và anh Lê Đình Tr có đăng ký kết hôn hợp pháp vào 31/7/2015 tại Uỷ ban nhân dân xã Đức Thanh, huyện Đ , tỉnh Hà Tĩnh (nay là Ủy ban nhân dân xã Đức Thịnh, tỉnh Hà Tĩnh). Sau khi kết hôn cuộc s ng vợ chồng hạnh phúc đến kho ng năm 2020 thì vợ chồng thường xuyên cãi vã do bất đồng quan điểm s ng, tính tình không hòa hợp. Nay nhận thấy tình c m vợ chồng không còn, hôn nhân không có hạnh phúc và không mong mu n duy trì cuộc s ng hôn nhân với anh Tr nên chị Nguyễn Thị H i Y yêu cầu Tòa án gi i quyết cho chị được ly hôn anh Lê Đình Tr .

Xét thấy mục đích hôn nhân là xây d ng cuộc s ng gia đình hạnh phúc, tiến bộ, vợ chồng ph i tôn trọng, quan tâm, chăm sóc lẫn nhau nhưng cuộc hôn nhân gi a chị Y và anh Tr không còn đạt được mục đích đó, mâu thuẫn vợ chồng đã trở nên trầm trọng. Anh Tr đã biết việc chị Y khởi kiện yêu cầu Tòa án gi i quyết ly hôn nhưng anh không có biện pháp để hàn gắn tình c m vợ chồng. Từ yêu cầu của nguyên đơn và th c tế tình trạng hôn nhân gi a chị Nguyễn Thị H i Y và anh Lê Đình Tr , Hội đồng xét xử xét thấy hôn nhân gi a hai người đã đến mức trầm trọng, vợ chồng mỗi người một nơi, không thể hàn gắn nên cần căn cứ Điều 51, 56 Luật hôn nhân gia đình cần chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Nguyễn Thị H i Y đ i với anh Lê Đình Tr là phù hợp.

[2.2] Về con chung và cấp dưỡng: Chị Y và anh Tr có với nhau 02 con chung là cháu Lê Nguyễn o Ngân, sinh ngày 24/02/2016 và cháu Lê o An, sinh ngày 13/02/2018. Khi ly hôn chị Y có nguyện vọng được tr c tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng c hai cháu đến khi đủ 18 tuổi.

Xét thấy từ khi anh Tr đi nước ngoài đến nay hai cháu s ng cùng với chị Y và được chị Y chăm sóc, giáo dục, học hành đ m b o. Do đó, để tiếp tục đ m b o cuộc s ng và tâm lý ổn định cho các cần giao cháu Lê Nguyễn B o Ngân, sinh ngày 24/02/2016 và cháu Lê B o An, sinh ngày 13/02/2018 cho chị Nguyễn Thị H i Y tr c tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cho đến khi đủ 18 tuổi hoặc đến khi có s thay đổi khác theo quy định của pháp luật là phù hợp với quy định của pháp luật, nguyện vọng của con và điều kiện hoàn c nh của mỗi bên đương s . Anh Tr được quyền và nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc con chung mà không ai được c n trở.

Về cấp dưỡng nuôi con, chị Nguyễn Thị H i Y không yêu cầu nên không xem xét gi i quyết.

[2.3] Về tài s n chung, nợ chung: Các đương s không yêu cầu Tòa án gi i quyết nên không xem xét.

[3] Về án phí: Nguyên đơn ph i chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Vì các l trên,

QUYẾT Đ NH:

Căn cứ các Điều 51, 56, 57, 81, 82, 83, 123 Luật Hôn nhân gia đình năm 2014; kho n 1 Điều 28; điểm a kho n 1 Điều 37; Điều 39, 227, 228, 273, 464, 469, 479; kho n 4 Điều 147 ộ luật t tụng dân s ; Điều 10 Nghị quyết s 01/2024/NQ-HĐTP ngày 16/5/2024 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân T i cao; điểm a kho n 5 Điều 27 Nghị quyết s 326/U TVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Qu c hội quy định về mức thu, miễn, gi m, thu, nộp, qu n lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Nguyễn Thị H i Y . Tuyên xử:

1. Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị H i Y được ly hôn với anh Lê Đình Tr .

2. Về con chung và cấp dưỡng: Giao cháu Lê Nguyễn o Ngân, sinh ngày 24/02/2016 và cháu Lê o An, sinh ngày 13/02/2018 cho chị Nguyễn Thị H i Y tr c tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi đủ 18 tuổi hoặc đến khi có s thay đổi khác theo quy định của pháp luật. Anh Lê Đình Tr có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được c n trở.

Anh Lê Đình Tr không ph i cấp dưỡng nuôi con chung do chị Nguyễn Thị H i Y không yêu cầu.

3. Về án phí: uộc chị Nguyễn Thị H i Y ph i chịu 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm nhưng được trừ vào s tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí mà chị Nguyễn Thị H i Y đã nộp theo biên lai s 000004545993 ngày 26/5/2025 của Cục Thi hành án Dân s tỉnh Hà Tĩnh.

4. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn có quyền kháng cáo b n án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được b n án. Bị đơn có quyền kháng cáo b n án trong thời hạn 01 tháng kể từ ngày nhận được b n án hoặc kể từ ngày b n án được t ng đạt hợp lệ. N nhận

Cỡ chữ