vanban.org

Bản án 257/2023/HS-ST — Hình sự

TAND TP. Huế, TP. Huế Tuyên án 05/09/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về tội danh: Căn cứ điểm c khoản 2 Điều 173; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1 Điều 48 Bộ luật Hình sự; Khoản 2 Điều 136; Điều 331, 333 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Tuyên bố: Bị cáo Phạm Bá H (Tên gọi khác: Đà) phạm tội “Trộm cắp tài sản”. Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Phạm Bá H 03 (Ba) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt giam chấp hành án. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Phạm Bá H - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Về tội danh: Căn cứ điểm c khoản 2 Điều 173; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1 Điều 48 Bộ luật Hình sự; Khoản 2 Điều 136; Điều 331, 333 Bộ luật Tố tụng hình sự.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 13 Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP Hướng dẫn áp dụng một số quy đ…; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ HUẾ
TỈNH THỪA THIÊN HUẾ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 257/2023/HS-ST
Ngày 05-9-2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HUẾ, TỈNH THỪA THIÊN HUẾ

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Thanh Ly.

Các Hội thẩm Nhân dân: Ông Nguyễn Văn Lân và bà Bùi Thị Thu Hằng.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Ngọc Huyền – Thư ký Tòa án Nhân dân thành phố Huế, tỉnh Thừa Thiên Huế.

- Đại diện Viện kiểm sát Nhân dân thành phố Huế tham gia phiên tòa: Ông Trần Văn Cảm - Kiểm sát viên.

Ngày 05 tháng 9 năm 2023, tại phòng xử án Tòa án Nhân dân thành phố Huế xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 232/2023/TLST-HS ngày 04/8/2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 216/2023/QĐXXST-HS ngày 23/8/2023 đối với:

- Bị cáo: Phạm Bá H (Tên gọi khác: Đà), sinh ngày 25/10/1990 tại tỉnh Thừa Thiên Huế. Nơi cư trú: Số 21/1B/31 đường Lịch Đợi, phường Phường Đúc, thành phố Huế, tỉnh Thừa Thiên Huế; nghề nghiệp: Thợ sơn, trình độ văn hóa: Lớp 9/12, dân tộc: Kinh, giới tính: Nam, tôn giáo: Phật giáo, quốc tịch: Việt Nam. Con ông Phạm Bá Ph, sinh năm 1953 và bà Đặng Thị Ng, sinh năm 1953; vợ, con: Chưa có. Tiền án, tiền sự: Không. Bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 19/4/2023 đến nay. Bị cáo tại ngoại. Có mặt.

- Bị hại: Bà Phạm Thị Thanh Nh, sinh năm 1969. Nơi cư trú: Số 21/02/31 đường Lịch Đợi, phường Phường Đúc, thành phố Huế, tỉnh Thừa Thiên Huế. Có mặt.

- Người làm chứng: Ông Phạm Bá Ph, sinh năm 1953. Nơi cư trú: Số 21/1B/31 đường Lịch Đợi, phường Phường Đúc, thành phố Huế, tỉnh Thừa Thiên Huế. Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Vào khoảng 14 giờ 20 phút ngày 04/3/2023, Phạm Bá H đi ngang nhìn nhà số 21/02/31 đường Lịch Đợi, phường Phường Đúc, thành phố Huế thấy cửa hông mở nhìn vào bên trong nhà thấy bà Phạm Thị Thanh Nh, sinh năm 1969 đang nằm ngủ trên giường; Phạm Bá H nảy sinh ý định chiếm đoạt tài sản của bà Phạm Thị Thanh Nh; Phạm Bá H đi vào phòng ngủ của bà Phạm Thị Thanh Nh thấy 01 túi xách để trên giường, liền nhanh chóng lấy trộm túi xách rồi đi đến khu vực cầu Ga Huế. Tại đây, Phạm Bá H mở túi xách đếm được số tiền bên trong có 84.000.000 đồng. Sau đó, Phạm Bá H cất giấu tiền trong người rồi ném túi xách xuống sông Cầu Ga Huế; Phạm Bá H đi bộ về nhà rồi đón xe đi tỉnh Quảng Bình chơi và tiêu xài số tiền trộm cắp được. Chiều cùng ngày, bà Phạm Thị Thanh Nh phát hiện bị mất tài sản nên đến Công an phường Phường Đúc, thành phố Huế đề tình báo.

Ngày 11/4/2023, Phạm Bá H đến Công an phường Phường Đúc để đầu thú, khai nhận hành vi phạm tội của mình.

* Về vật chứng của vụ án: Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Huế đã tạm giữ các vật chứng do bà Phạm Thị Thanh Nh giao nộp gồm:

- 01 đĩa CD-R chứa dữ liệu được niêm phong.

- 03 ảnh trích xuất từ video Camera.

Đối với 01 túi xách do Phạm Bá H đã ném xuống khu vực sông cầu Ga Huế, không nhớ vị trí cụ thể nên không thu giữ được.

* Về trách nhiệm dân sự: Quá trình điều tra, truy tố bà Phạm Thị Thanh Nh yêu cầu bị cáo Phạm Bá H phải bồi thường số tiền 100.000.000 đồng.

Đối với 01 túi xách giá trị không đáng kể bà Phạm Thị Thanh Nh không yêu cầu bị cáo Phạm Bá H phải bồi thường.

Tại bản Cáo trạng số 251/CT-VKSTPH ngày 04/8/2023, Viện kiểm sát Nhân dân thành phố Huế, tỉnh Thừa Thiên Huế truy tố Phạm Bá H về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 173 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát Nhân dân thành phố Huế giữ nguyên bản Cáo trạng, đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử:

Về hình sự: Căn cứ điểm c khoản 2 Điều 173; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Phạm Bá H mức hình phạt từ 03 năm tù đến 03 năm 06 tháng tù.

Về hình phạt bổ sung: Đề nghị Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung bằng tiền đối với bị cáo Phạm Bá H.

Về trách nhiệm dân sự: Quá trình điều tra, truy tố bà Phạm Thị Nh yêu cầu bị cáo Phạm Bá H phải bồi thường số tiền 100.000.000 đồng. Tại phần tranh luận bà Phạm Thị Nh thay đổi yêu cầu của mình; yêu cầu bị cáo Phạm Bá H phải bồi thường số tiền 84.000.000 đồng là có căn cứ pháp luật nên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận.

Về xử lý vật chứng: Đối với 01 đĩa CD-R chứa dữ liệu được niêm phong và 03 bức ảnh do bà Phạm Thị Thanh Nh giao nộp được sử dụng làm tài liệu, chứng cứ trong vụ án nên đề nghị Hội đồng xét xử tiếp tục lưu vào hồ sơ vụ án hình sự.

Về án phí sơ thẩm: Đề nghị Hội đồng xét xử buộc bị cáo Phạm Bá H phải chịu 200.000 đồng tiền án phí hình sự và 4.200.000 đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm.

Ý kiến tranh luận của bị cáo Phạm Bá H: Bị cáo Phạm Bá H không tranh luận với đại diện Viện kiểm sát Nhân dân thành phố Huế. Đối với yêu cầu của bà Phạm Thị Thanh Nh thì bị cáo Phạm Bá H đề nghị bà Phạm Thị Thanh Nh tạo điều kiện về thời gian để đi làm có tiền trả hàng tháng cho bà Phạm Thị Thanh Nh.

Ý kiến tranh luận của bị hại bà Phạm Thị Thanh Nh: Bà Phạm Thị Thanh Nh đồng ý với sự tranh luận, giải thích của đại diện Viện kiểm sát Nhân dân thành phố Huế nên yêu cầu bị cáo Phạm Bá H phải bồi thường số tiền bị thiệt hại 84.000.000 đồng và yêu cầu bị cáo Phạm Bá H phải bồi thường một lần số tiền 84.000.000 đồng.

Lời nói sau cùng của bị cáo Phạm Bá H: Bị cáo Phạm Bá H không nói lời sau cùng.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo, bị hại không có khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng.

Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát và Kiểm sát viên đều hợp pháp.

[2] Về hành vi phạm tội của bị cáo Phạm Bá H, Hội đồng xét xử thấy rằng: Căn cứ vào các hình ảnh, dữ liệu Video được trích xuất từ Camera gia đình bà Phạm Thị Thanh Nh được thu thập hợp pháp; kết luận giám định của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thừa Thiên Huế; căn cứ vào lời khai của bị cáo, bị hại, người làm chứng và các tài liệu, chứng cứ khác; có đủ căn cứ vững chắc kết luận: Vào khoảng 14 giờ 20 phút ngày 04/3/2023, bị cáo Phạm Bá H phát hiện cửa hông nhà Phạm Thị Thanh Nh đang mở, bà Phạm Thị Thanh Nh nằm ngủ trên giường, có túi xách để bên cạnh nên bị cáo Phạm Bá H nảy sinh ý định chiếm đoạt tài sản; vào lúc 14 giờ 53 phút 53 giây cùng ngày bị cáo Phạm Bá H đi vào nhà bà Phạm Thị Thanh Nh rồi lén lút đột nhập vào phòng ngủ của bà Phạm Thị Thanh Nh lấy trộm 01 túi xách màu vàng đen, dạng hình chữ nhật rồi nhanh chóng tẩu thoát vào lúc 14 giờ 54 phút 10 giây cùng ngày. Số tiền trộm cắp được theo lời khai của bị cáo Phạm Bá H, lời khai của bà Phạm Thị Thanh Nh tại phiên tòa và các tài liệu, chứng cứ khác chứng minh được là 84.000.000 đồng. Vì vậy, hành vi của bị cáo Phạm Bá H đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại điểm c khoản 2 Điều 173 Bộ luật Hình sự. Cáo trạng của Viện kiểm sát Nhân dân thành phố Huế truy tố bị cáo Phạm Bá H là có căn cứ, đúng pháp luật, không oan sai.

Hành vi phạm tội của bị cáo Phạm Bá H gây nguy hiểm cho xã hội; xâm phạm quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự tại địa phương; sau khi tiêu xài hết số tiền trộm cắp được, bị cáo Phạm Bá H không tìm biện pháp để bồi thường một phần hoặc toàn bộ thiệt hại cho bà Phạm Thị Thanh Nh, chứng tỏ bị cáo Phạm Bá H không thể hiện thái độ ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình. Vì vậy, cần thiết phải cách ly bị cáo Phạm Bá H ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để cải tạo, giáo dục bị cáo Phạm Bá H thành công dân có ích cho xã hội, đồng thời răn đe, phòng ngừa chung.

[3] Xét nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, thấy rằng: Bị cáo Phạm Bá H là người có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự; phạm tội lần đầu và không phạm vào tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại Điều 52 Bộ luật Hình sự. Quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thành khẩn khai báo, tự nguyện ra đầu thú khai nhận hành vi phạm tội của mình. Các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mà bị cáo Phạm Bá H được hưởng quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Ngoài ra, khi xem xét hình phạt Hội đồng xét xử xem xét thêm cho bị cáo Phạm Bá H về hoàn cảnh gia đình hiện nay có người thân thích cũng đang chấp hành án của vụ án khác để thể hiện sự khoan hồng của pháp luật.

Về hình phạt bổ sung: Bị cáo Phạm Bá H không có nghề nghiệp, thu nhập ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung bằng tiền đối với bị cáo Phạm Bá H.

[4] Về trách nhiệm dân sự: Quá trình điều tra, truy tố bà Phạm Thị Thanh Nh khẳng định bị cáo Phạm Bá H trộm cắp số tiền 100.000.000 đồng và 02 tờ đô la Mỹ. Ngoài lời khai ra thì bà Phạm Thị Thanh Nh không đưa ra được tài liệu, chứng cứ vật chất nào khác để chứng minh cho yêu cầu của mình. Tại phần tranh luận bà Phạm Thị Thanh Nh thay đổi yêu cầu của mình, chỉ yêu cầu bị cáo Phạm Bá H bồi thường số tiền 84.000.000 đồng nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

[5]. Về xử lý vật chứng: Đối với 01 đĩa CD-R chứa dữ liệu được niêm phong và 03 bức ảnh do bà Phạm Thị Thanh Nh giao nộp được sử dụng làm tài liệu, chứng cứ trong vụ án nên Hội đồng xét xử tiếp tục lưu vào hồ sơ vụ án hình sự.

[6] Về án phí sơ thẩm: Bị cáo Phạm Bá H phải chịu 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm và 4.200.000 đồng (84.000.000đ x 5%) tiền án phí dân sự sơ thẩm.

[7] Đối với đề nghị của Kiểm sát viên và người tham gia tố tụng phù hợp với quan điểm của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Về tội danh: Căn cứ điểm c khoản 2 Điều 173; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1 Điều 48 Bộ luật Hình sự; Khoản 2 Điều 136; Điều 331, 333 Bộ luật Tố tụng hình sự. Căn cứ các Điều 585, 589, 468, 357 Bộ luật Dân sự; Điểm a, c khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 13 Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án Nhân dân tối cao.

Tuyên bố: Bị cáo Phạm Bá H (Tên gọi khác: Đà) phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

2. Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Phạm Bá H 03 (Ba) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt giam chấp hành án.

Không áp dụng hình phạt bổ sung bằng tiền đối với bị cáo Phạm Bá H.

3. Về trách nhiệm dân sự: Buộc bị cáo Phạm Bá H có nghĩa vụ bồi thường cho bị hại bà Phạm Thị Thanh Nh số tiền 84.000.000đ (Tám mươi bốn triệu đồng).

Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.

4. Về xử lý vật chứng: Tiếp tục lưu vào hồ sơ vụ án 01 đĩa CD-R chứa dữ liệu được niêm phong và 03 bức ảnh do bà Phạm Thị Thanh Nh giao nộp.

5. Về án phí sơ thẩm: Buộc bị cáo Phạm Bá H phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm và 4.200.000đ (Bốn triệu hai trăm nghìn đồng) tiền án phí dân sự sơ thẩm.

6. Về quyền kháng cáo: Bị cáo Phạm Bá H, bị hại bà Phạm Thị Thanh Nh có quyền kháng cáo Bản án này trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Trường hợp Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ