vanban.org

Bản án 257/2023/HS-ST — Hình sự

TAND TP. Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai Tuyên án 06/06/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

[1] Căn cứ vào khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017):

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Tấn P phạm tội “Trộm cắp tài sản”. Xử phạt bị cáo Nguyễn Tấn P 01 (một) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày 18/01/2023. [2] Về án phí: Căn cứ Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? [1] Căn cứ vào khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017):
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 173 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ BIÊN HÒA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH ĐỒNG NAI
Bản án số: 257/2023/HS-ST
Ngày 06-6-2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

----------------

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Ông Lê Hữu Phúc

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Trần Văn Chánh

Bà Nguyễn Thị Ngọc Hoa

Thư ký phiên toà: Ông Đặng Quang Minh- Thư ký Toà án.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa- tỉnh Đồng Nai tham gia phiên toà: Bà Điểu Thị Hồng- Kiểm sát viên.

Ngày 06 tháng 6 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 276/2023/TLST-HS ngày 18 tháng 5 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 273/2023/QĐXXST-HS ngày 24 tháng 5 năm 2023, đối với bị cáo:

Nguyễn Tấn P, sinh năm: 1976 tại thành phố H. Nơi đăng ký HKTT: K3/109, khu phố 1, phường B, thành phố B, tỉnh Đ. Nghề nghiệp: Không; Trình độ văn hóa: 09/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Mạnh C và bà Nguyễn Kim L; Vợ là Nguyễn Thị D, sinh năm 1983, có 01 con là Nguyễn Phương B, sinh năm 2000; Tiền án, tiền sự: Không; Nhân thân: Ngày 14/3/1996 bị Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai xử phạt 06 tháng tù về tội “Cướp giật tài sản công dân” tại bản án số 138/1996/HSST; Ngày 12/4/2000 bị Tòa án nhân dân huyện Tân Uyên, tỉnh Bình Dương xử phạt 15 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” tại bản án số 08/2000/HSST; Ngày 14/3/2003 bị Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai xử phạt 20 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” tại bản án số 75/2003/HSST; Ngày 14/5/2003 bị Tòa án nhân dân Quận 9, thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 02 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản” tại bản án số 30/2003/HSST; Ngày 14/9/2007 bị Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai xử phạt 02 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản” tại bản án số 555/2007/HSST; Ngày 30/9/2013 bị Tòa án nhân dân thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dương xử phạt 07 năm 03 tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” tại bản án số 378/2013/HSST (chấp hành xong ngày 26/9/2017). Bị cáo bị bắt quả tang, tạm giữ và chuyển tạm giam từ ngày 18/01/2023, hiện đang tạm giam tại nhà tạm giữ công an thành phố Biên Hòa (Có mặt).

Bị hại: Bà Trần Thị Thanh H, sinh năm 1981. Địa chỉ: 94/17, khu phố 1, phường Q, thành phố B, tỉnh Đ (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Nguyễn Tấn P là đối tượng không có nghề nghiệp, để có tiền tiêu xài, P đã nảy sinh ý định tìm tài sản sơ hở để lấy trộm. Khoảng 18 giờ 30 phút ngày 18/01/2023, P điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Vario, biển số 60F3– 746.39 đi đến trước nhà chị Trần Thị Thanh H, tại địa chỉ số 94/17, khu phố 1, phường Quyết Thắng, thành phố Biên Hòa thì phát hiện cổng nhà không đóng nên P để xe bên ngoài rồi đi vào bên trong nhà chị H, thì phát hiện 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11 Promax đang được cắm sạc ở vị trí trên ghế sofa của phòng khách và 01 ví da màu nâu để trên bàn nên P đi đến lấy trộm rồi tẩu thoát ra ngoài. Cùng lúc này, chị H và chồng chị H là anh Trần Hoàng Nh phát hiện nên truy hô đuổi theo được khoảng 10 mét thì bắt giữ được P cùng tang vật giao công an phường Quyết Thắng lập hồ sơ chuyển cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Biên Hoà giải quyết theo thẩm quyền.

Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Biên Hòa tiến hành trưng cầu giá trị tài sản mà Nguyễn Tấn P đã lấy trộm.

Tại Kết luận định giá tài sản số: 22/KL– HĐĐGTS ngày 19/01/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố Biên Hòa đã kết luận: “01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11 Promax, màu xanh, dung lượng 256Gb và 01(một) ví màu nâu, kích thước 5cm x 7cm có tổng giá trị định giá là 16.128.000 đồng (mười sáu triệu một trăm hai mươi tám nghìn đồng)”

Quá trình điều tra và tại phiên Tòa, bị cáo Nguyễn Tấn P đã khai nhận hành vi phạm tội như nội dung bản cáo trạng truy tố, thể hiện thái độ ăn năn hối cải.

Tại bản cáo trạng số: 280/CT-VKSBH, ngày 12 tháng 5 năm 2023 Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa đã truy tố bị cáo Nguyễn Tấn P về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự 2015.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Tấn P phạm tội “Trộm cắp tài sản”. Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự 2015. Xử phạt bị cáo từ 01 năm đến 01 năm 02 tháng tù. Buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự theo quy định của pháp luật.

Về trách nhiệm dân sự và xử lý vật chứng: Bị hại bà Trần Thị Thanh H đã nhận lại tài sản và không yêu cầu bị cáo bồi thường về dân sự.

Đối với chiếc xe mô tô nhãn hiệu Vario 150, biển số 60F3 – 746.39 là tài sản của anh Nguyễn Phương Bình, sinh năm 2000, hộ khẩu thường trú K3/109, khu phố 1, phường B, thành phố Biên Hoà, tỉnh Đồng Nai, đã cho P mượn xe để đi công việc. Anh Bình không biết P đã sử dụng xe vào việc thực hiện hành vi phạm tội nên Cơ quan cảnh sát điều tra đã trả lại cho anh Bình.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về thủ tục tố tụng: Đối với hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Biên Hòa, Điều tra viên; Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là đúng quy định pháp luật.

Về nội dung vụ án:

Qua xem xét lời khai của bị cáo Nguyễn Tấn P đã khai nhận thể hiện trong hồ sơ vụ án, cũng như lời khai của bị cáo tại phiên Tòa thống nhất với hành vi phạm tội theo như cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa đã truy tố. Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, lời khai của bị hại, lời khai người làm chứng, kết luận giám định và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Qua đó, đã có đủ căn cứ kết luận: Khoảng 18 giờ 30 phút ngày 18/01/2023 tại nhà số 94/17, khu phố 1, phường Quyết Thắng, thành phố Biên Hòa, Nguyễn Tấn P có hành vi lén lút chiếm đoạt của chị Trần Thị Thanh H 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11 Promax, màu xanh, dung lượng 256Gb và 01(một) ví màu nâu, kích thước 5cm x 7cm có tổng giá trị là 16.128.000 đồng (mười sáu triệu một trăm hai mươi tám nghìn đồng).

Hành vi nêu trên của Nguyễn Tấn P là nguy hiểm cho xã hội và đã phạm vào tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại khoản 1 điều 173 Bộ luật hình sự 2015.

Xét nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo thì thấy: Bị cáo là người không có tiền án, tiền sự, nhưng có nhân thân xấu vì trước đó đã bị Tòa án kết án 06 lần, trong đó có 04 lần bị kết án về hành vi “Trộm cắp tài sản”. Tuy nhiên, trong giai đoạn điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo thể hiện sự thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo. Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự

Về xử lý vật chứng và trách nhiệm dân sự: Bị hại bà Trần Thị Thanh H đã nhận lại tài sản và không yêu cầu bị cáo bồi thường về dân sự. Nên HĐXX không phải đặt ra xem xét, giải quyết.

Về án phí: Buộc bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Quan điểm đề nghị về tội danh truy tố đối với bị cáo của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

[1] Căn cứ vào khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017):

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Tấn P phạm tội “Trộm cắp tài sản”. Xử phạt bị cáo Nguyễn Tấn P 01 (một) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày 18/01/2023.

[2] Về án phí: Căn cứ Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Buộc bị cáo Nguyễn Tấn P phải nộp 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

[3] Báo cho bị cáo biết có quyền kháng cáo bản án này trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Bị hại là bà Hiền có quyền kháng cáo bản án này trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án theo quy định pháp luật.

Cỡ chữ