vanban.org

Bản án 257/2023/HN-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.

Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu của bà Nguyễn Thị Bé Đ xin ly hôn ông Lê Văn N. Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn số 163/2014 ngày 26/8/2014 của Ủy ban nhân dân xã Hòa An, huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang không còn giá trị pháp lý. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "ly hôn"
  • Tòa quyết gì? Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN CHỢ MỚI
TỈNH AN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 257/2023/HN-ST
Ngày: 28-9-2023
V/v tranh chấp “Ly hôn và nuôi con”

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHỢ MỚI,TỈNH AN GIANG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Ông Nguyễn Công Đức

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Trịnh Văn Bé

2. Bà Đào Thị Thu Vân

Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Cẩm Tiên - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Chợ Mới.

Đại di n Vi n ki m sát nhân dân huy n Ch M i tham gia phiên tòa:

Ông Trƣơng Minh Thiện – Kiểm sát viên.

Ngày 28 tháng 9 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Chợ Mới xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 479/2023/TLST-HNGĐ ngày 30 tháng 6 năm 2023 về tranh chấp “Ly hôn và nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 494/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 21 tháng 8 năm 2023 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Bé Đ, sinh năm 1994 (Vắng mặt)

Địa chỉ: ấp B, xã B, xã H, huyện C, tỉnh An Giang.

2. Bị đơn: Ông Lê Văn N, sinh năm 1992 (Vắng mặt)

Địa chỉ: Ấp B, xã B, xã H, huyện C, tỉnh An Giang.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện và tờ tự khai nguyên đơn bà Nguyễn Thị Bé Đ trình bày, bà và ông Lê Văn N quen biết do mai mối và sống chung vào năm 2014, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Hòa An, huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang. Vợ chồng chung sống với nhau đến năm 2015 thì xảy ra mâu thuẫn, nguyên nhân do vợ chồng khó khăn về kinh tế, thường xuyên cãi nhau. Gia đình hai bên có dàn xếp hòa giải vợ chồng nhiều lần nhưng không được. Vợ chồng không còn sống chung từ năm 2020 đến nay. Nhận thấy tình cảm không còn, bà Đ yêu cầu được ly hôn với ông N.

Về con chung: Bà Đ xác định vợ chồng có 01 con chung tên Lê Thanh T, sinh ngày 06/02/2015, hiện đang sống với bà. Sau khi ly hôn, bà yêu cầu được tiếp tục nuôi cháu T, không yêu cầu ông N cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung: Bà Đ không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Bị đơn ông Lê Văn N đã được Tòa án tống đạt thông báo thụ lý vụ án của bà Đ và triệu tập hợp lệ để giải quyết, nhưng ông N vắng mặt không lý do, nên không ghi nhận ý kiến và hòa giải được.

Tại phiên tòa, bà Nguyễn Thị Bé Đ có đơn xin xét xử vắng mặt và vẫn giữ nguyên yêu cầu.

Ông Lê Văn N đã được tống đạt để tham gia phiên tòa, nhưng ông vắng mặt không lý do.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Chợ Mới phát biểu quan điểm về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký là đúng quy định của pháp luật. Việc chấp hành pháp luật của đương sự kể từ khi thụ lý vụ án đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án đảm bảo theo quy định của pháp luật.

Ý kiến quan điểm của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Chợ Mới về việc giải quyết vụ án:

Chấp nhận yêu cầu của bà Nguyễn Thị Bé Đ xin ly hôn giữa ông Lê Văn N.

Về quan hệ con chung: Bà Nguyễn Thị Bé Đ được tiếp tục nuôi con chung tên Lê Thanh Truc, sinh ngày 06/02/2015 hiện đang sống với bà Đ. Ông Nkhông phải cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung, nợ chung, không yêu cầu giải quyết nên không xem xét.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

- Về hình thức: Bà Nguyễn Thị Bé Đ khởi kiện xin ly hôn ông Lê Văn N có nơi cư trú ấp B, xã B, xã H, huyện C, tỉnh An Giang nên Tòa án nhân dân huyện Chợ Mới thụ lý giải quyết là đúng thẩm quyền.

Bà Nguyễn Thị Bé Đ có đơn xin xét xử vắng mặt. Ông Lê Văn N đã được Tòa án triệu tập hợp lệ để tham gia phiên tòa đến lần thứ hai, nhưng ông N vắng mặt không lý do chính đáng. Căn cứ Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bà Nguyễn Thị Bé Đ, ông Lê Văn N là có căn cứ

- Về nội dung: Bà Nguyễn Thị Bé Đ và ông Lê Văn N sống chung vào năm 2014, có đăng ký kết hôn theo qui định. Vợ chồng sống đến năm 2015 thì xảy ra mâu thuẫn, nguyên nhân do vợ chồng khó khăn về kinh tế nên thường xuyên cãi nhau. Gia đình hai bên có hòa giải vợ chồng nhiều lần nhưng không được. Vợ chồng không còn sống chung từ năm 2020 đến nay. Nhận thấy tình cảm không còn, bà Đ xin ly hôn ông N. Hội đồng xét xử xét thấy, bà Đ và ông N kết hôn với nhau và có đăng ký kết hôn theo quy định của Luật Hôn nhân và gia đình, nên quan hệ hôn nhân giữa hai người được pháp luật thừa nhận và bảo vệ. Trong quá trình giải quyết, Tòa án đã tống đạt Thông báo thụ lý vụ án xin ly hôn của bà Đ, nhưng ông N không có ý kiến gì và vắng mặt trong các buổi hòa giải, điều này chứng tỏ mâu thuẫn giữa hai người đã trầm trọng nếu sống chung lại cũng không hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt được, do đó việc bà Đ xin ly hôn ông N là có cơ sở phù hợp với Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình, nên chấp nhận yêu cầu của bà Đ.

- Về quan hệ con chung: Bà Đ xác định vợ chồng có 01 con chung tên Lê Thanh T, sinh ngày 06/02/2015 hiện đang sống với bà Đ. Sau khi ly hôn, bà Đ yêu cầu được tiếp tục nuôi cháu T, không yêu cầu ông N cấp dưỡng nuôi con. Hội đồng xét xử xét thấy, việc nuôi con phải được xem xét trên cơ sở điều kiện, nuôi dưỡng về vật chất, cũng như tinh thần, đảm bảo cho con chung phát triển tốt, trở thành công dân có ích cho xã hội. Bà Đ hiện nay có công việc và thu nhập ổn định, có đủ điều kiện để nuôi dưỡng con chung. Để bảo đảm sự ổn định và không làm ảnh hưởng tâm lý đối với cháu T. Do đó, việc bà Đ yêu cầu được tiếp tục nuôi con chung phù hợp với Điều 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân và gia đình nên chấp nhận yêu cầu này.

- Về quan hệ tài sản chung: Bà Đ không yêu cầu giải quyết, nên Hội đồng xét xử không xem xét.

- Về nợ chung: Bà Đ xác định không có, không yêu cầu giải quyết, nên Hội đồng xét xử không đề cập đến.

- Về án phí: Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án. Đương sự phải chịu án phí theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ:

Điều 28, 35, 39, 147, 227, 273 Bộ luật tố tụng dân sự;

Điều 51, 56, 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;

Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.

Xử:

Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu của bà Nguyễn Thị Bé Đ xin ly hôn ông Lê Văn N.

Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn số 163/2014 ngày 26/8/2014 của Ủy ban nhân dân xã Hòa An, huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang không còn giá trị pháp lý.

Về quan hệ con chung: Bà Nguyễn Thị Bé Đ được tiếp tục nuôi con chung tên Lê Thanh T, sinh ngày 06/02/2014 hiện đang sống với bà Đ. Ông N không phải cấp dưỡng nuôi con.

Bà Đ cùng các thành viên gia đình nếu có) không được cản trở ông N trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.

Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của người thân thích của con, cơ quan có thẩm quyền, Tòa án có thể quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con, buộc cấp dưỡng nuôi con chung dựa trên các căn cứ do pháp luật quy định.

Về quan hệ tài sản chung: Không yêu cầu giải quyết.

Về nợ chung: Ghi nhận bà Đ xác định không có nợ chung, nhưng sau khi bản án ly hôn có hiệu lực pháp luật, nếu có nguyên đơn khởi kiện xuất trình chứng cứ chứng minh nợ chung trong thời kỳ hôn nhân thì bà Đ, ông N vẫn phải liên đới chịu trách nhiệm với tư cách đồng bị đơn trong vụ án dân sự khác.

- Về án phí: Bà Nguyễn Thị Bé Đ phải chịu án phí hôn nhân sơ thẩm 300.000đ (Ba trăm ngàn đồng), nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000đ Ba trăm ngàn đồng) theo biên lai số 0013839 ngày 30/6/2023 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Chợ Mới.

Đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày được tống đạt bản án.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7A và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự./.

Cỡ chữ