vanban.org

Bản án 257/2022/HS-PT — Hình sự

TAND tỉnh Bình Dương Tuyên án 31/10/2022 Hình sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 31/10/2022 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Không chấp nhận kháng cáo của các bị cáo Hồ Chí T1, Nguyễn Văn T2, Lê Đăng Huy H và Nguyễn Chí Đ.

Giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số 227/2022/HS-ST ngày 22/8/2022 của Tòa án nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương về hình phạt đối với các bị cáo Hồ Chí T1, Nguyễn Văn T2, Lê Đăng Huy H và Nguyễn Chí Đ. Tuyên bố các bị cáo Hồ Chí T1, Nguyễn Văn T2, Lê Đăng Huy H, Nguyễn Chí Đ phạm tội Trộm … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Hồ Chí T1 và đp 173 - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Không chấp nhận kháng cáo của các bị cáo Hồ Chí T1, Nguyễn Văn T2, Lê Đăng Huy H và Nguyễn Chí Đ.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH BÌNH DƯƠNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 257/2022/HS-PT
Ngày 31-10-2022

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH DƯƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chu toa phiên toa: Ông Lê Sỹ Trứ.

Các Thẩm phán: Ông Bùi Ngọc Thạch.

Ông Lê Quân Vương.

- Thư ký phiên tòa: Ông Phạm Hồng Thái - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Dương tham gia phiên toà: Bà Ngô Thị Thùy - Kiểm sát viên.

Ngày 31 tháng 10 năm 2022, tại Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 237/2022/TLPT-HS ngày 03 tháng 10 năm 2022 đối với bị cáo Hồ Chí Tâm và các bị cáo khác do có kháng cáo của các bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 227/2022/HS-ST ngày 22/8/2022 của Tòa án nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương.

Các bị cáo có kháng cáo:

1. Hồ Chí T1, sinh ngày 10 tháng 01 năm 1996 tại tỉnh Phú Yên; nơi cư trú: thôn L, xã A, thành phố T, tỉnh Phú Yên; tạm trú: 51/A 83, tổ 10 khu phố B, phường T, thành phố T, tỉnh Bình Dương; nghề nghiệp: Công nhân; trình độ văn hóa (học vấn): 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Hồ Thanh B và bà Lâm Thị B; tiền án, tiền sự: không; bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 09/8/2022, có mặt.

2. Nguyễn Văn T2, sinh năm 1990 tại tỉnh Vĩnh Phúc; nơi cư trú: làng B, xã I, huyện I, tỉnh Gia Lai; nghề nghiệp: Công nhân; trình độ văn hóa (học vấn): 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn H và bà Trần Thị D; bị cáo có vợ bà Trương Thị H, sinh năm 1989 và 02 người con; tiền án, tiền sự: không; bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 01/6/2022, có mặt.

3. Lê Đăng Huy H, sinh ngày 10 tháng 3 năm 1993 tại tỉnh Hà Tĩnh; nơi cư trú: thôn R, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông; chỗ ở: khu phố Khánh Hội, phường Tân Phước Khánh, thị xã Tân Uyên, tỉnh Bình Dương; nghề nghiệp: Công nhân; trình độ văn hóa (học vấn): 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Đăng L và bà Hoàng Thị T B; tiền án, tiền sự: không; bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 09/8/2022, có mặt.

4. Nguyễn Chí Đ, sinh ngày 24 tháng 4 năm 1985 tại tỉnh Quảng Trị; nơi cư trú: thôn T, xã H, huyện H, tỉnh Quảng Trị; tạm trú: D40, khu phố B, phường A, thành phố D, tỉnh Bình Dương; nghề nghiệp: làm thuê; trình độ văn hóa (học vấn): 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn T và bà Võ Thị T; tiền án, tiền sự: không; bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 09/8/2022, có mặt.

Người bào chữa cho bị cáo: Ông Võ Duy K là Luật sư thuộc Đoàn Luật sư tỉnh Bình Dương là người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Chí Đ, có mặt.

Ngoài ra, trong vụ án còn có 01 bị cáo khác, bị hại nhưng không kháng cáo và không bị kháng nghị nên Tòa án không triệu tập.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Các bị cáo Hồ Chí T1, Nguyễn Văn T2, Lê Đăng Huy H và Lương Vũ P cùng làm công nhân tại Công ty TNHH N (Việt Nam) địa chỉ: số 18 VSIP, đường số 02, phường Bình Hòa, thành phố Thuận An. Bị cáo Nguyễn Chí Đ là nhân viên vận chuyển hàng của Công ty Bưu chính viễn thông VINTRANS hợp đồng vận chuyển với Công ty N. Trong đó T1 và H làm việc tại bộ phận in PEL (in nhãn mác trên cổ áo), T2 là nhân viên bộ phận kho, P là nhân viên bảo vệ. Quá trình làm việc các bị cáo bàn bạc với nhau chiếm đoạt tài sản là mực in của Công ty N để bán lấy tiền tiêu xài, với thủ đoạn cụ thể như sau:

Hàng ngày làm việc bị cáo Tuấn xuất mực in từ kho vật tư của Công ty giao cho bị cáo T1 và H bên bộ phận in, quá trình làm việc thì H và T1 lấy bớt mực bỏ riêng vào một thùng khác, hoặc quá trình in còn dư mực thì T1 và H gom lại tập hợp và đóng vào thùng carton ngụy trang giống như các thùng hàng thành phẩm của Công ty N sau đó đưa lại cho bị cáo T2.

T2 có nhiệm vụ đưa thùng mực ra ngoài khu vực sản xuất để Đ lấy danh nghĩa Công ty vận chuyển đưa ra ngoài hoặc T1 lợi dụng lúc tan ca đưa mực ra ngoài đi tiêu thụ. Khi đi qua cổng bảo vệ Công ty thì P là nhân viên bảo vệ sẽ làm ngơ không kiểm tra để cho Đ và T1 đưa mực ra ngoài. Sau khi đưa mực ra khỏi khu vực Công ty N thì T1 mang các thùng mực này đi bán lấy tiền về chia nhau tiêu xài.

Với thủ đoạn nêu trên, trong thời gian từ khoảng tháng 9/2020 đến tháng 3/2021 các bị cáo đã thực hiện 05 lần lấy trộm mực in từ Công ty N mang ra ngoài bán với tổng trọng lượng 90kg mực in nhãn hiệu RM: FLX/66-10-M-BK thu lợi bất chính số tiền 62.000.000 đồng.

Đến ngày 14/3/2021, qua việc kiểm kho thì Công ty TNHH N phát hiện mất tài sản là mực in như trên nên đã trình báo sự việc tới Công an Đồn VSIP. Công an Đồn VSIP thành phố Thuận An tiếp nhận, lập hồ sơ chuyển tới Cơ quan CSĐT Công an thành phố Thuận An giải quyết theo thẩm quyền.

Tại Biên bản định giá và Bản kết luận định giá sản ngày 20/7/2021 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố Thuận An kết luận: 90kg mực in nhãn hiệu RM: FLX/66-10-M-BK có giá trị 68.246.802 đồng (sáu mươi tám triệu, hai trăm bốn mươi sáu nghìn, tám trăm linh hai đồng).

Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 227/2022/HS-ST ngày 22/8/2022 của Tòa án nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương đã quyết định:

Căn cứ điểm c khoản 2 Điều 173; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52, Điều 58 Bộ luật Hình sự.

Tuyên bố các bị cáo Hồ Chí T1, Nguyễn Văn T2, Lê Đăng Huy H, Nguyễn Chí Đ, Lương Vũ P phạm tội Trộm cắp tài sản.

Xử phạt bị cáo Hồ Chí T1 03 (ba) năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 09/8/2022.

Xử phạt bị cáo Lê Đăng Huy H 03 (ba) năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 09/8/2022.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T2 02 (hai) năm 09 (chín) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 01/6/2022.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Chí Đ 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 09/8/2022.

Ngoài ra, bản án còn tuyên xử phạt Lương Vũ P 02 (hai) năm 03 (ba) tháng tù, về án phí và quyền kháng cáo của bị cáo, bị hại.

Ngày 29/8/2022, các bị cáo Hồ Chí T1, Nguyễn Văn T2, Nguyễn Chí Đ kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt.

Ngày 30/8/2022, bị cáo Lê Đăng Huy H kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt.

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Dương tham gia phiên toa trình bày quan điểm giải quyết vụ án:

Đơn kháng cáo của bị cáo trong hạn luật định, Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương thụ lý và đưa vụ án ra xét xử theo trình tự phúc thẩm là đúng theo quy định tại các Điều 332, 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự. Tại phiên tòa phúc thẩm, các bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung bản án sơ thẩm xác định, nên Tòa án cấp sơ thẩm xét xử các bị cáo là có căn cứ và đúng pháp luật, các bị cáo Hồ Chí T1, Nguyễn Văn T2, Lê Đăng Huy H không cung cấp tình tiết giảm nhẹ mới; bị cáo Nguyễn Chí Đ có cung cấp chứng cứ có ông nội là người có công với Nhà nước. Tuy nhiên, Tòa án cấp sơ thẩm đã xem xét xét, đánh giá về tính chất, hành vi phạm tội của các bị cáo và xử phạt bị cáo Hồ Chí T1 03 (ba) năm tù, Lê Đăng Huy H 03 (ba) năm tù, Nguyễn Văn T2 02 (hai) năm 09 (chín) tháng tù, Nguyễn Chí Đ 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù là phù hợp với hành vi các bị cáo đã thực hiện nên không có căn cứ xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.

Đề nghị Hội đồng xét xử: áp dụng điểm a khoản 1 Điều 355; Điều 356 của Bộ luật Tố tụng hình sự giữ nguyên hình phạt theo Bản án hình sự sơ thẩm số 227/2022/HS-ST ngày 22/8/2022 của Tòa án nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương đối với các bị cáo.

Người bào chữa cho bị cáo Đ trình bày: Tòa án cấp sơ thẩm xử phạt bị cáo Đại 02 năm 06 tháng tù là quá nghiêm khắc, bị cáo có nhân thân tốt, có nơi cư trú rõ ràng, bị cáo có ông nội là người có công với Nhà nước; ngoài ra gia đình bên ngoại của bị cáo cũng có nhiều người có công với Nhà nước; số tiền thu lợi bất chính không nhiều nên đề nghị Hội đồng xét xử xử phạt bị cáo 02 năm tù và cho bị cáo Đ được hưởng án treo theo quy định tại Điều 65 Bộ luật Hình sự.

Các bị cáo không tham gia tranh luận và trong lời nói sau cùng, các bị cáo mong Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt; bị cáo Nguyễn Chí Đ xin được hưởng án treo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về thủ tục tố tụng:

Về thủ tục tố tụng: hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Điều tra Công an thành phố Thuận An, Điều tra viên, Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Thuận An, Kiểm sát viên, Hội đồng xét xử sơ thẩm đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Các bị cáo, người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa sơ thẩm. Do đó, các hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp, đúng quy định; các bị cáo kháng cáo trong thời hạn luật định nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Về nội dung:

Trong khoảng thời gian từ tháng 9/2020 đến tháng 3/2021, các bị cáo Hồ Chí T1, Nguyễn Văn T2, Lê Đăng Huy H, Nguyễn Chí Đ và Lương Vũ P đã 05 lần lén lút chiếm đoạt 90kg mực in nhãn hiệu RM: FLX/66-10-M-BK của Công ty TNHH NATCO (Việt Nam), tổng giá trị tài sản chiếm đoạt là 68.246.802 đồng. Hành vi các bị cáo đã thực hiện đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 173 Bộ luật Hình sự.

Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm xét xử các bị cáo Hồ Chí T1, Nguyễn Văn T2, Lê Đăng Huy H, Nguyễn Chí Đ và Lương Vũ P về tội danh và điều khoản như trên là có căn cứ, đúng pháp luật.

Xét kháng cáo của bị cáo, Hội đồng xét xử nhận thấy:

Đối với kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của các bị cáo Hồ Chí T1, Nguyễn Văn T2, Lê Đăng Huy H, xét thấy: Các bị cáo là công nhân làm việc trong Công ty N nhưng đã lợi dụng sự sơ hở trong quản lý tài sản của bị hại, chỉ trong một thời gian ngắn nhưng đã 05 lần lén lút thực hiện hành vi phạm tội là thể hiện coi thường pháp luật. Hành vi của bị cáo là rất nguy hiểm cho xã hội, gây ảnh hưởng đến hoạt động sản xuất kinh doanh, ảnh hưởng đến môi trường đầu tư của nhà đầu tư nước ngoài tại Việt Nam, gây mất trật tự trị an tại địa phương. Các bị cáo kháng cáo nhưng không cung cấp được tình tiết giảm nhẹ mới, Tòa án cấp sơ thẩm đã xem xét đánh giá tính chất hành vi phạm tội của từng bị cáo và quyết định xử phạt bị cáo Hồ Chí T1 03 (ba) năm tù, Lê Đăng Huy H 03 (ba) năm tù, Nguyễn Văn T2 02 (hai) năm 09 (chín) tháng tù là phù hợp với hành vi bị cáo đã thực hiện, nên Hội đồng xét xử không có căn cứ chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo.

Đối với kháng cáo của bị cáo Nguyễn Chí Đ, xét thấy tại phiên tòa phúc thẩm, Người bào chữa cho bị cáo có cung cấp chứng cứ là đơn xác nhận hoàn cảnh gia đình khó khăn, bị cáo Đ có ông nội là Nguyễn Văn T là người có công với Nhà nước, đây là tình tiết giảm nhẹ mới nên Hội đồng xét xử ghi nhận. Tuy nhiên, như phân tích nhận định trên, bị cáo Đ cùng các đồng phạm khác liên tiếp 05 lần lén lút thực hiện hành vi phạm tội là thể hiện coi thường pháp luật nên không có căn cứ chấp nhận yêu cầu giảm nhẹ hình phạt và hưởng án treo của bị cáo Đ.

Quan điểm giải quyết vụ án của đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Dương về áp dụng hình phạt đối với các bị cáo là phù hợp với hành vi các bị cáo đã thực hiện nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Phần trình bày của người bào chữa đề nghị cho bị cáo Đ được hưởng án treo là không đảm bảo tính răn đe, giáo dục, không phù hợp với hành vi bị cáo đã thực hiện nên không chấp nhận.

Các phần khác của quyết định án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật.

Án phí phúc thẩm: các bị cáo phải chịu án phí hình sự phúc thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

1. Không chấp nhận kháng cáo của các bị cáo Hồ Chí T1, Nguyễn Văn T2, Lê Đăng Huy H và Nguyễn Chí Đ.

2. Giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số 227/2022/HS-ST ngày 22/8/2022 của Tòa án nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương về hình phạt đối với các bị cáo Hồ Chí T1, Nguyễn Văn T2, Lê Đăng Huy H và Nguyễn Chí Đ.

Tuyên bố các bị cáo Hồ Chí T1, Nguyễn Văn T2, Lê Đăng Huy H, Nguyễn Chí Đ phạm tội Trộm cắp tài sản.

Áp dụng điểm c khoản 2 Điều 173; các điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 58 Bộ luật Hình sự.

Xử phạt bị cáo Hồ Chí T1 03 (ba) năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 09/8/2022.

Xử phạt bị cáo Lê Đăng Huy H 03 (ba) năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 09/8/2022.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T2 02 (hai) năm 09 (chín) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 01/6/2022.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Chí Đ 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 09/8/2022.

3. Về án phí:

Áp dụng Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Các bị cáo Hồ Chí T1, Nguyễn Văn T2, Lê Đăng Huy H, Nguyễn Chí Đ mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự phúc thẩm.

4. Các phần khác của quyết định án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ