- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "tranh chấp ly hôn"
- Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Cho ly hôn giữa chị Nguyễn Thị Yến V và anh Nguyễn Hoàng K.
- Căn cứ chính? Điều 143 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CÀ MAU TỈNH CÀ MAU | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 257/2022/HNGĐ-ST Ngày 26 - 9 - 2022 “V/v tranh chấp ly hôn” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CÀ MAU
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Ông Thái Hoàng Đắc
Các Hội thẩm nhân dân:
Bà Cao Hồng Cẩm
Ông Võ Thanh Liêm
- Thư ký phiên tòa: Bà Hoàng Xuân Thùy Dương – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Cà Mau.
Ngày 26 tháng 9 năm 2022 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Cà Mau, tỉnh Cà Mau xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 436/2022/TLST-HNGĐ ngày 26 tháng 7 năm 2022 về tranh chấp ly hôn, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 272/2022/QĐXXST-HNGĐ ngày 29 tháng 8 năm 2022 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Yến V, sinh năm: 1999; Nơi cư trú: ấp K, xã T, thị xã Giá Rai, tỉnh Bạc Liêu (xin vắng mặt).
- Bị đơn: Anh Nguyễn Hoàng K, sinh năm: 1999; Nơi cư trú: Đường Lý Thường Kiệt, khóm X, phường Y, thành phố Cà Mau, tỉnh Cà Mau (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
- Chị Nguyễn Thị Yến V trình bày tại đơn khởi kiện và tại biên bản ghi nhận ý kiến ngày 29/8/2022 như sau:
Về hôn nhân: Năm 2020, chị V và anh Nguyễn Hoàng K tự nguyện chung sống với nhau và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường 6, thành phố Cà Mau, tỉnh Cà Mau. Nguyên nhân mâu thuẫn vợ chồng do bất đồng quan điểm, không hợp nhau, anh chị hay cự cãi và đánh nhau. Hai người đã ly thân gần 01 năm nay mà không thể hàn gắn tình cảm vợ chồng. Chị V xác định không còn tình cảm và yêu cầu Tòa án giải quyết cho ly hôn với anh K.
Về nuôi con chung: Chị V và anh K có 01 người con chung là Nguyễn Ngọc Khánh B, sinh ngày 18/9/2021 (nữ), đang sống với chị V. Khi ly hôn, chị V yêu cầu nuôi con, không yêu cầu anh K cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản và nợ chung, nợ riêng: Chị V xác định không có.
Do điều kiện đi làm ăn xa nên chị V yêu cầu Tòa án xét xử vắng mặt theo quy định của pháp luật.
Trong quá trình Tòa án thụ lý giải quyết vụ án, Tòa án đã tống đạt các văn bản tố tụng cho bị đơn anh Nguyễn Hoàng K đầy đủ, đúng theo quy định pháp luật nhưng bị đơn vẫn vắng mặt và không có văn bản thể hiện ý kiến, cũng không có đơn phản tố gửi cho Tòa án.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về thủ tục tố tụng: Nguyên đơn chị Nguyễn Thị Yến V có đơn yêu cầu Tòa án xét xử vắng mặt. Bị đơn anh Nguyễn Hoàng K đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần để tham gia phiên tòa xét xử nhưng vẫn vắng mặt không có lý do. Căn cứ vào Điều 227, 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt anh chị.
[2] Về hôn nhân: Năm 2020, chị V và anh K tự nguyện chung sống với nhau và có đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật nên hôn nhân giữa anh chị được pháp luật công nhận là hợp pháp và được bảo vệ.
[3] Xét nguyên nhân mâu thuẫn vợ chồng theo chị V trình bày do bất đồng quan điểm, không hợp nhau, anh chị hay cự cãi và đánh nhau. Hai người đã ly thân gần 01 năm nay mà không thể hàn gắn tình cảm vợ chồng. Chị V xác định không còn tình cảm và yêu cầu Tòa án giải quyết cho ly hôn với anh K. Về phía anh K đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vẫn vắng mặt và không có văn bản thể hiện ý kiến của mình gửi cho Tòa án. Xét thấy tình trạng hôn nhân giữa chị V và anh K không thể hàn gắn, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Căn cứ vào Điều 51, 56 của Luật hôn nhân và gia đình, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của chị Nguyễn Thị Yến V được ly hôn với anh Nguyễn Hoàng K.
[3] Về nuôi con chung: Chị V và anh K có 01 người con chung là Nguyễn Ngọc Khánh B, sinh ngày 18/9/2021 (nữ), đang sống với chị V. Khi ly hôn, chị V yêu cầu được tiếp tục nuôi con. Xét thấy cháu B chưa đủ 36 tháng tuổi và chị V có đủ điều kiện nuôi con. Hơn nữa anh K không có ý kiến về việc chị V yêu cầu nuôi con. Do đó chị V yêu cầu được tiếp tục nuôi con là phù hợp với quy định tại khoản 3 Điều 81 của Luật Hôn nhân và gia đình. Anh K không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.
[4] Về cấp dưỡng nuôi con, theo quy định tại khoản 2 Điều 82 của Luật hôn nhân và gia đình thì cha, mẹ không trực tiếp nuôi con có nghĩa vụ cấp dưỡng cho con. Tuy nhiên, chị V không yêu cầu anh K cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
[5] Về tài sản và nợ chung, nơ riêng: Chị V xác định không có nên không xem xét.
[6] Về án phí: Chị V phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào các Điều 28, 35, 143, 147, 227, 228 của Bộ luật tố tụng dân sự; Các Điều 51, 56, 81, 82, 83 của Luật hôn nhân và gia đình; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án;
Tuyên xử:
1. Về hôn nhân: Cho ly hôn giữa chị Nguyễn Thị Yến V và anh Nguyễn Hoàng K.
2. Về nuôi con chung: Giao con chung là Nguyễn Ngọc Khánh B, sinh ngày 18/9/2021 (nữ) cho chị V trực tiếp nuôi dưỡng, anh K không phải cấp dưỡng nuôi con. Anh K không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.
3. Về tài sản và nợ chung, nợ riêng: Chị V xác định không có nên không xem xét.
4. Về án phí: Chị V phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm. Ngày 26/7/2022, chị V đã nộp tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng theo biên lai thu số 0001790 tại Chi cục thi hành án dân sự thành phố Cà Mau, tỉnh Cà Mau được đối trừ chuyển thu sung quỹ Nhà nước.
Nguyên đơn và bị đơn có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai.
“Trường hợp bản án được thi hành theo quy đinh tại điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự (được sửa đổi, bổ sung năm 2014).
| Nơi nhận: - Phòng KT-NV và THA TAND tỉnh Cà Mau (Gửi email); - VKSND thành phố Cà Mau; - Chi cục THADS thành phố Cà Mau; - UBND phường 6, thành phố Cà Mau; - Các đương sự; - Lưu hồ sơ; - Lưu án văn. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Thái Hoàng Đắc |