vanban.org

Bản án 257/2022/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Áp dụng: Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.

Xử: 1/ Chấp nhận toàn bộ yêu cầu xin ly hôn của chị Chu Thị Kim P đối với anh Trần Việt C. Cho chị Chu Thị Kim P được ly hôn anh Trần Việt C. 2/ Về con chung: Không có Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Chu Thị Kim P - Trần Việt C"
  • Tòa quyết gì? Áp dụng: Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.
  • Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN BA VÌ
THÀNH PHỐ HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 257 /2022/HNGĐ-ST
Ngày: 16/6/2022
V/v: Ly hôn

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BA VÌ, THÀNH PHỐ HÀ NỘI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có: Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Dung Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Xuân Thuật; Ông Phùng Xuân Phong

- Thư ký phiên tòa: Bà Đỗ Thị Thuý - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Ba Vì,

thành phố Hà Nội

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Ba Vì tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Thái Bình - Kiểm sát viên.

Trong ngày 16/6/2022, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Ba Vì, thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số: 12/2022/TLST-HNGĐ ngày 06 tháng 01 năm 2022 về việc: “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 43/2022/QĐXX-ST ngày 13 tháng 05 năm 2022; Quyết định hoãn phiên tòa số 30/2022/QĐ-ST ngày 31 tháng 05 năm 2022 giữa các đương sự:

* Nguyên đơn: Chị Chu Thị Kim P, sinh năm 1984 Địa chỉ: Xóm Th, xã PĐ, huyện Ba Vì, thành phố Hà Nội

* Bị đơn: Anh Trần Việt C, sinh năm 1983 Địa chỉ: Xóm Th, xã PĐ, huyện Ba Vì, thành phố Hà Nội

( Chị P có mặt, anh C vắng mặt tại phiên tòa)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn xin ly hôn ngày 29/11/2021, bản tự khai ngày 06/01/2022 Chị Chu Thị Kim P trình bày: Chị Chu Thị Kim P kết hôn với Anh Trần Việt C ngày 29/12/2010 trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại UBND xã PĐ, huyện Ba Vì. Sau khi kết hôn chị P và anh C về chung sống tại gia đình anh C ở xóm Th, xã PĐ, cuộc sống vợ chồng hạnh phúc được 03 năm đến năm 2013 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do vợ chồng không có con chung, mặc dù vợ chồng đã đi chữa trị ở nhiều nơi nhưng không có kết quả, nguyên nhân không có con chung là bệnh từ phía chị P nhiều hơn vì vậy từ đó vợ chồng anh chị thường xuyên bất đồng quan điểm, không hợp nhau, không chia sẻ và cảm thông cho nhau nên mâu thuẫn vợ chồng ngày càng trầm trọng. Do vậy chị P đã trở về bố mẹ đẻ sống từ tháng 11 năm 2021 cho đến nay, cắt đứt mọi quan hê tình cảm vợ chồng. Nay chị P xác định tình cảm vợ chồng không còn đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn anh Trần Việt C.

- Về con chung: Không có con chung.

- Về Tài sản chung, công sức, tài sản riêng, nợ chung: Chị P xác định vợ chồng không có gì.

Anh Trần Việt C đã được Tòa án triệu tập nhiều lần nhưng cố tình vắng mặt, không đến Tòa làm việc. Tòa án đã tiến hành các thủ tục, niêm yết các văn bản tố tụng theo quy định của pháp luật và xác minh tình trạng hôn nhân của chị Chu Thị Kim P và anh Trần Việt C tại xã PĐ, tiến hành xác minh đối với người thân của anh Trần Việt C và chính quyền địa phương nơi anh C cư trú thấy rằng:

Tại biên bản xác minh ngày 21/02/2022, Ủy ban nhân dân xã PĐ và ông Trần Văn D (bố đẻ anh Trần Việt C) đều cung cấp thông tin: Chị P và anh C kết hôn trên cơ sở tự nguyện có dăng ký kết hôn vào năm 2010 và cùng chung sống tại gia đình ông Trần Văn Dũng xóm Th, xã PĐ. Tuy nhiên do vợ chồng chị P, anh C không có con chung, nhiều lần tìm cách chữa trị nhưng không có kết quả, nên anh C và chị P thường xuyên mâu thuẫn cái nhau, vợ chồng bất đồng quan điểm, cuộc sống chung căng thẳng, chị P và anh C đã sống ly thân từ tháng 11/2021 cho đến nay, nên đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật. Về con chung: Anh C và chị P không có con chung. Về tài ản chung, riêng, công sức, công nợ : không có.

Tòa án đã tiến hành tống đạt, niêm yết Thông báo phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng và hòa giải nhưng anh Trần Viết Chí không đến Tòa làm việc. Vì vậy vụ án không thể tiến hành hòa giải được.

Tại phiên tòa hôm nay chị Chu Thị Kim P vẫn giữ quan điểm xin được ly hôn với anh Trần Việt C vì chị xác định tình cảm vợ chồng không còn. Về con chung: Không có, Về Tài sản chung, riêng, công sức chung, công nợ chung: Không có.

Đối với anh Trần Việt C đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng và quyết định đưa vụ án ra xét xử nhưng không tham gia phiên tòa, Hội đồng xét xử đã quyết định hoãn phiên tòa, sau khi có quyết định hoãn phiên tòa đã tống đạt niêm yết đúng trình tự thủ tục theo quy định của pháp luật nhưng anh C vẫn không có mặt. Mặc dù anh đã được gia đình giao các giấy triệu tập cũng như văn bản tố tụng của Tòa án, Tòa án cũng đã gọi điện trực tiếp cho anh C thông báo các ngày giờ có mặt tại Tòa án để giải quyết vụ án. Việc anh C không đến Tòa trong quá trình tiến hành tố tụng là gây khó khăn cho việc giải quyết vụ án.

* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Ba Vì, thành phố Hà Nội tham gia phiên tòa phát biểu quan điểm về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký đều thực hiện đầy đủ các quy định của pháp luật; Hồ sơ đã làm đầy đủ thủ tục theo quy định của bộ luật tố tụng dân sự; Các đương sự đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ của mình.

* Ý kiến quan điểm của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Ba Vì, thành phố Hà Nội về việc giải quyết vụ án:

- Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết vụ án: Tòa án đã xác định đúng quan hệ pháp luật theo quy định tại điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự; Tòa án thụ lý đúng theo thẩm quyền quy định tại điều 35, điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.

- Về quan hệ hôn nhân: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điều 56,57 Luật hôn nhân gia đình năm 2014: Chấp nhận đơn yêu cầu ly hôn của chị Chu Thị Kim P. Cho chị Chu Thị Kim P được ly hôn anh Trần Việt C.

- Về con chung: Không có.

- Về tài sản chung, tài sản riêng, công sức, công nợ: Chưa xem xét giải quyết.

- Về án phí: Chị Chu Thị Kim P phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy:

[1] Về tố tụng dân sự: Chị Chu Thị Kim P khởi kiện xin ly hôn anh Trần Việt C có hộ khẩu thường trú: Xóm Th, xã PĐ, huyện Ba Vì, thành phố Hà Nội; Theo quy định tại khoản 1 điều 28, khoản 1 điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Ba Vì- TP. Hà Nội.

Anh Trần Việt C đã được Tòa án thông báo về việc thụ lý vụ án, giao giấy triệu tập và các văn bản tố tụng nhưng cố tình trốn tránh, không đến Tòa án để giải quyết vụ án. Căn cứ Điều 227, 228 của BLTTDS, Hội đồng xét xử tiến hành hành xét xử vụ án vắng mặt anh Trần Việt C.

Xét về quan hệ hôn nhân: Chị Chu Thị Kim P và anh Trần Việt C kết hôn ngày 29/12/2010 trên cơ sở tự nguyện tìm hiểu. có đăng ký tại UBND xã PĐ, huyện Ba Vì, thành phố Hà Nội, là hôn nhân hợp pháp. Sau khi kết hôn hai vợ chồng chị về chung sống cùng gia đình nhà anh C, cuộc sống vợ chồng sống hạnh phúc được ba năm thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân theo chị P trình bày vợ chồng không có con chung, mặc dù đã đi chữa trị ở nhiều nơi nhưng không có kết quả, nguyên nhân không có con chung là bệnh từ phía chị P nhiều hơn từ đó vợ chồng anh chị thường xuyên bất đồng quan điểm, không chia sẻ và cảm thông cho nhau dẫn đến không còn hạnh phúc, mâu thuẫn vợ chồng ngày càng trầm trọng. Nay chị xác định tình cảm vợ chồng không còn, đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn. Anh Trần Việt C đã được tòa án triệu tập, tống đạt hợp lệ nhiều lần nhưng cố tình trốn tránh không đến Tòa làm việc như vậy anh Trần Việt C tự đánh mất quyền của mình được pháp luật bảo vệ. Căn cứ vào điều 56 Luật hôn nhân gia đình xét yêu cầu xin ly hôn của chị Chu Thị Kim P là hoàn toàn tự nguyện, Hội đồng xét xử nhận thấy mâu thuẫn giữa chị Chu Thị Kim P và Trần Việt C là trầm trọng, bất đồng quan điểm, không tìm được tiếng nói chung, nguyên nhân chủ yếu là do vợ chồng không có con chung, mặc dù đã tìm cách chữa trị nhiều nơi nhưng không có kết quả. Chị P và anh C đã ly thân và chấm dứt mọi quan hệ tình cảm từ tháng 11 năm 2021 cho đến nay. Vợ chồng sống ly thân đã lâu nhưng cả hai bên không có biện pháp hàn gắn tình cảm, cuộc sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Do vậy chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị P, cho chị Chu Thị Kim P được ly hôn anh Trần Việt C là phù hợp và có căn cứ, đúng pháp luật.

Về con chung: Chị P xác định không có con chung.

Về tài sản chung, công sức, tài sản riêng, công nợ: Chị P xác định không có. Anh Trần Việt C chưa có lời trình bày tại Tòa án nên HĐXX chưa giải quyết và giành quyền khởi kiện cho các đương sự bằng vụ án dân sự khác khi có yêu cầu là phù hợp quy định pháp luật.

Về án phí: Chị Chu Thị Kim P phải chịu toàn bộ án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng: Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014. Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Khoản 4 Điều 147, Điều 227,Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy Ban thường vụ Quốc hội.

Xử: 1/ Chấp nhận toàn bộ yêu cầu xin ly hôn của chị Chu Thị Kim P đối với anh Trần Việt C. Cho chị Chu Thị Kim P được ly hôn anh Trần Việt C.

2/ Về con chung: Không có

3/ Về tài sản chung, công sức, tài sản riêng, nợ chung: Chưa giải quyết.

4/ Về án phí: Chị Chu Thị Kim P phải nộp 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm, chị P đã nộp 300 000đ tiền tạm ứng án phí theo biên lai số 0059942 ngày 06/01/2022, tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Ba Vì, nay được khấu trừ vào số tiền mà chị P phải nộp.

5/ Quyền kháng cáo: Chị Chu Thị Kim P có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Anh Trần Việt C có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được tống đạt hợp lệ bản án hoặc bản án được niêm yết công khai tại nơi cư trú theo quy định của pháp luật.

“ Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thị hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự“.

Cỡ chữ