vanban.org

Bản án 257/2021/HS-ST — Hình sự

TAND TX. Thuận An, tỉnh Bình Dương Tuyên án 21/09/2021 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Điểm g khoản 2 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017;

Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa XIV. Tuyên bố bị cáo Trương Văn P phạm tội trộm cắp tài sản. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Trương Văn Ph trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Điểm g khoản 2 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017;
  • Căn cứ chính? Điều 290 Bộ luật Tố tụng hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ THUẬN AN
TỈNH BÌNH DƯƠNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 257/2021/HS-ST
Ngày: 21-9-2021

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THUẬN AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Vũ Trọng Quân.

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Lê Thị Thiện;

Bà Trần Ngọc Phương.

- Thư ký phiên tòa: Bà Đoàn Phạm Thanh Trang, Thư ký Toà án nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Bà Lê Thị Hương, Kiểm sát viên.

Ngày 21 tháng 9 năm 2021, tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 230/2021/TLST-HS ngày 07 tháng 7 năm 2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 245/2021/QĐXXST-HS ngày 16 tháng 8 năm 2021 đối với bị cáo:

Trương Văn P, sinh năm 1990 tại Nghệ An; HKTT: Xóm X, xã NV, huyện NL, tỉnh Nghệ An; nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: 6/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trương Văn B và bà Nguyễn Thị H; tiền án: Ngày 16/01/2009 bị Tòa án nhân dân huyện Dĩ An, tỉnh Bình Dương xử phạt 07 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản tại bản án số 14/2009/HSST; Ngày 19/01/2011 bị Tòa án nhân dân thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An tuyên phạt 07 năm tù về tội Trộm cắp tài sản theo Bản án số 13/2011/HSST; Ngày 15/3/2018 bị Tòa án nhân dân thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương xử phạt 02 năm 09 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản; bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 14/3/2021, có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt.

Bị hại: Ông Đoàn Chí L, sinh năm 1993; HKTT: Ấp CC, xã ĐH, huyện CN, tỉnh Cà Mau. Vắng mặt.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Cao H, sinh năm 1973; địa chỉ: Thôn ĐT, xã PT, huyện NP, tỉnh Ninh Thuận. Vắng mặt.

Người làm chứng:

1. Ông Phạm Quốc T, sinh năm 1992. Vắng mặt;

2. Bà Nguyễn Thị D, sinh năm 1985. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 10 giờ 00 phút ngày 14/3/2021, Trương Văn P đang ngồi uống nước tại quán cóc gần cầu vượt Sóng Thần thuộc phường An Bình, thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương thì có đối tượng tên Tuấn (không rõ nhân thân, lai lịch) là bạn bè quen biết ngoài xã hội với P đến rủ P đi chiếm đoạt xe mô tô bán lấy tiền tiêu xài thì P đồng ý. Khi đi đối tượng Tuấn đưa cho P 01 bộ đoản phá khóa xe hình chữ T được mài dẹp 01 đầu. Tuấn điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Exciter 150 (không rõ biển số) chở P ngồi sau, đi qua nhiều tuyến đường thuộc phường Bình Hòa, thành phố Thuận An tìm xe mô tô của người dân để sơ hở để chiếm đoạt. Đến khoảng 10 giờ 30 phút cùng ngày khi cả hai đi đến trước kiốt địa chỉ 100/5A25 thuộc khu phố Bình Đáng, phường Bình Hòa, thành phố Thuận An thì nhìn thấy xe mô tô nhãn hiệu Honda Winner X màu đen vàng đồng, biển số 85D1-622.83 của ông Đoàn Chí L đang dựng bên cạnh kiốt, Tuấn dừng xe lại cho P đi đến vị trí xe mô tô, quan sát thấy trên xe có cắm sẵn chìa khóa nên P đã lén lút đẩy xe mô tô ra ngoài đường và bật chìa khóa nổ máy bỏ chạy được khoảng 05m thì bị ông Linh phát hiện nên cùng người dân tri hô đuổi theo bắt giữ được P và giao cho cơ quan Công an xử lý, còn đối tượng Tuấn đã điều khiển xe mô tô bỏ chạy.

Vật chứng thu giữ gồm: 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Winner X màu đen vàng đồng, biển số 85D1-622.83; 01 cây đoản hình chữ T bằng kim loại; 01 áo khoác màu đỏ; 01 nón bảo hiểm màu trắng.

Tại bản kết luận định giá tài sản ngày 19/3/2021 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố Thuận An kết luận 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Winner X màu đen vàng đồng, biển số 85D1-622.83 trị giá 44.800.000 đồng.

Bản Cáo trạng số 239/CT-VKS-TA ngày 06/7/2021 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương đã truy tố bị cáo Trương Văn P về tội trộm cắp tài sản theo điểm g khoản 2 Điều 173 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 (Sau đây gọi tắt là Bộ luật Hình sự).

Tại phiên tòa:

Kiểm sát viên giữ quyền công tố giữ nguyên quyết định truy tố như nội dung Cáo trạng và đề nghị áp dụng điểm g khoản 2 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự xử phạt Trương Văn P mức hình phạt từ 02 năm 06 tháng đến 03 năm tù.

Bị cáo Trương Văn P vắng mặt nhưng có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt được Nhà tạm giữ công an thành phố Thuận An xác nhận. Trong đơn, bị cáo đã thừa nhận hành vi của mình là trái pháp luật, ăn năn hối cải và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về tố tụng: Trong các giai đoạn tố tụng từ khi khởi tố vụ án cho đến khi kết thúc việc truy tố, các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, cán bộ điều tra, Kiểm sát viên đều thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, bị hại và những người tham gia tố tụng khác không khiếu nại, tố cáo về các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng là hợp pháp.

Tại phiên tòa bị cáo vắng mặt nhưng đã có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt. Xét thấy, đơn yêu cầu xét xử vắng mặt của bị cáo là tự nguyện và việc vắng mặt của bị cáo là không ảnh hưởng đến quá trình xét xử vụ án vì trong hồ sơ vụ án, bản tự khai, các biên bản hỏi cung đối với bị cáo cũng như chứng cứ đã được thu thập đầy đủ. Do đó, Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt bị cáo Trương Văn P theo đơn yêu cầu của bị cáo, phù hợp với quy định tại điểm c, d khoản 2 Điều 290 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

Về hành vi: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thống nhất thừa nhận vào ngày 14/3/2021, bị cáo đã cùng với đối tượng tên Tuấn (không rõ nhân thân, lai lịch) chiếm đoạt chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Winner X màu đen vàng đồng, biển số 85D1-622.83 của ông Đoàn Chí L nhưng bị cáo bị bắt quả tang và giao cho công an phường Bình Hòa, riêng tên Tuấn điều khiển xe mô tô chạy thoát. Chiếc xe bị cáo chiếm đoạt có giá trị 44.800.000 đồng.

Về lỗi của bị cáo: Khi thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản của bị hại, bị cáo nhận thức được việc làm đó là vi phạm pháp luật, thấy trước hậu quả đồng thời mong muốn chiếm đoạt được tài sản của bị hại để bán lấy tiền tiêu xài, do đó lỗi của bị cáo là lỗi cố ý trực tiếp.

Từ những nhận xét nêu trên có đủ cơ sở kết luận: Hành vi của bị cáo chiếm đoạt tài sản có giá trị 44.800.000 đồng đã đủ yếu tố cấu thành tội trộm cắp tài sản. Bị cáo đã tái phạm nguy hiểm, chưa được xóa án tích tiếp tục phạm tội với lỗi cố ý trực tiếp nên thuộc trường hợp tái phạm nguy hiểm. Vì vậy, Bản Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thuận An truy tố bị cáo về tội trộm cắp tài sản quy định tại điểm g khoản 2 Điều 173 của Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật, không oan sai đối với bị cáo.

Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ. Bị cáo nhận thức được hành vi đó là vi phạm pháp luật, đã nhiều lần bị Tòa án xét xử và kết án về hành vi tương tự; bị cáo biết nếu bị phát hiện sẽ bị xử lý nhưng vì tham lam, tư lợi nên đã cố ý phạm tội. Hành vi của bị cáo thể hiện sự xem thường pháp luật, xem thường quyền sở hữu tài sản của người khác, gây mất an ninh trật tự tại địa phương, việc truy tố và đưa bị cáo ra xét xử là cần thiết. Bị cáo và tên Tuấn thực hiện tội phạm dưới hình thức đồng phạm giản đơn, do đó căn cứ quy định tại Điều 17 và Điều 58 của Bộ luật Hình sự, cần có mức hình phạt tương xứng để cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian đủ để răn đe, giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Sau khi phạm tội có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thuận An đề nghị căn cứ vào các điều luật nêu trên để xử phạt bị cáo là phù hợp pháp luật, phù hợp với tính chất, mức độ nguy hiểm và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo nên được chấp nhận.

Đối với đối tượng có tên Tuấn (không rõ lai lịch) cùng thực hiện hành vi trộm cắp tài sản với bị cáo Trương Văn P, do chưa xác định được nhân thân, lai lịch nên Cơ quan điều tra tiếp tục xác minh, khi nào có đủ căn cứ sẽ xử lý theo quy định.

Về trách nhiệm dân sự và xử lý vật chứng:

Đối với xe mô tô nhãn hiệu Honda Winner X màu đen vàng đồng, biển số 85D1-622.83, quá trình điều tra xác định xe mô tô trên do ông Cao H là người đứng tên chủ sở hữu. Qua điều tra xác định ông Hiệp đã cho con rể là ông Đoàn Chí L mượn làm phương tiện đi lại, đến ngày 14/3/2021 thì bị bị cáo chiếm đoạt như trên; Cơ quan điều tra đã ra quyết định xử lý vật chứng trả lại tài sản cho ông Hiệp là có căn cứ. Quá trình điều tra ông Linh và ông Hiệp không yêu cầu bị cáo phải bồi thường gì nên không xem xét.

Đối với vật chứng là 01 cây đoản hình chữ T bằng kim loại màu trắng, kích thước 11cm x 11,5cm là công cụ bị cáo sử dụng vào việc phạm tội nên cần tịch thu tiêu hủy.

Đối với 01 áo khoác màu đỏ, có sọc đen hai bên cánh tay; 01 nón bảo hiểm màu trắng nhãn hiệu CKC là trang phục mà bị cáo mặc trên người khi thực hiện tội phạm không còn giá trị sử dụng nên cần tuyên tịch thu tiêu hủy.

Về án phí: Bị cáo bị kết án nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào:

- Điểm g khoản 2 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017;

- Điều 106; khoản 2 Điều 136; điểm c, d khoản 2 Điều 290 của Bộ luật Tố tụng Hình sự;

- Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa XIV.

1. Tuyên bố bị cáo Trương Văn P phạm tội trộm cắp tài sản.

Xử phạt bị cáo Trương Văn P 02 (Hai) năm 06 (Sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 14/3/2021.

2. Về xử lý vật chứng và biện pháp tư pháp:

Tịch thu tiêu hủy 01 cây đoản hình chữ T bằng kim loại màu trắng, kích thước 11cm x 11,5cm; 01 áo khoác màu đỏ, có sọc đen hai bên cánh tay; 01 nón bảo hiểm màu trắng nhãn hiệu CKC.

(Biên bản giao, nhận vật chứng ngày 05/7/2021 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Thuận An và Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thuận An).

3. Về án phí: Bị cáo Trương Văn P phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

4. Bị cáo, bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết.

Cỡ chữ