vanban.org

Bản án 257/2021/HS-PT — Hình sự

TAND tỉnh Đồng Tháp Tuyên án 16/11/2021 Hình sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 16/11/2021 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Không chấp nhận kháng cáo xin giảm hình phạt, xin được hưởng án treo hoặc cải tạo không giam giữ của bị cáo Hà Bảo X.

Giữ nguyên bản án hình sự sơ thẩm số: 15/2021/HSST ngày 24 tháng 3 năm 2021 của Tòa án nhân dân huyện T, tỉnh Đồng Tháp. Tuyên bố bị cáo Hà Bảo X phạm tội “Sản xuất, buôn bán hàng giả là thuốc bảo vệ thực vật”. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Hà Bảo X - phạm tội sản xuất, buôn bán hàng giả là thức ăn dùng để chăn nuôi, phân bón, thuốc thú y, thuốc bảo vệ thực vật, giống cây trồng,…"
  • Tòa quyết gì? Không chấp nhận kháng cáo xin giảm hình phạt, xin được hưởng án treo hoặc cải tạo không giam giữ của bị cáo Hà Bảo X.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 195 Bộ luật Hình sự; Điều 355 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH ĐỒNG THÁP

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 257/2021/HS-PT
Ngày: 16 - 11 - 2021

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG THÁP

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thúy Hằng.

Các Thẩm phán: Ông Ngô Tấn Lợi.

Bà Nguyễn Huỳnh Thị Hương Thủy.

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Tấn Nghĩa - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Tháp tham gia phiên tòa: Bà Lưu Thúy Ái - Kiểm sát viên.

Trong các ngày 15, 16 tháng 11 năm 2021 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 115/2021/TLPT-HS ngày 29 tháng 4 năm 2021 đối với bị cáo Hà Bảo X, do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 15/2021/HSST ngày 24 tháng 3 năm 2021 của Tòa án nhân dân huyện T, tỉnh Đồng Tháp.

- Bị cáo c kháng cáo:

Hà Bảo X, sinh năm 1980 tại Đồng Tháp. Đăng ký thường trú: Ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Đồng Tháp; chỗ ở hiện nay: Ấp H, xã T, huyện T, tỉnh Đồng Tháp; nghề nghiệp: Làm ruộng; trình độ văn hóa (học vấn): 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Phật; quốc tịch: Việt Nam; con ông Hà Văn H và bà Phạm Thị X1; có vợ và 01 con; tiền án, tiền sự: Không; bị bắt, tạm giam: Không; có mặt.

Ngoài ra không bị kháng cáo, kháng nghị.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 16 giờ ngày 24/6/2020 tại đoạn đường thuộc ấp H, xã T, huyện T, tỉnh Đồng Tháp, Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về hình sự, kinh tế, môi trường Công an huyện T phối hợp Công an xã T tiến hành kiểm tra xe mô tô biển kiểm soát 66F7-75xx do ông Hà Văn B điều khiển thì phát hiện trên xe đang vận chuyển 02 thùng giấy bên trong có 120 chai thuốc bảo vệ thực vật gồm 40 chai nhãn hiệu Tilt Super 300EC, loại 250 ml; 40 chai nhãn hiệu Amistar Top 325SC, loại 250 ml và 40 chai nhãn hiệu Filia 525SE, loại 250 ml. Ông B khai nhận số thuốc bảo vệ thực vật nêu trên là của bị cáo Hà Bảo X, sinh năm 1980 cư trú ấp T, xã T, huyện T thuê vận chuyển với giá 150.000 đồng/chuyến. Qua kiểm tra nơi ở của bị cáo X phát hiện thêm 67 chai thuốc bảo vệ thực vật gồm 38 chai nhãn hiệu Tilt Super 300EC, loại 250 ml; 29 chai nhãn hiệu Amistar 250SC, loại 100 ml và nhiều dụng cụ, thiết bị sử dụng để sản xuất, buôn bán thuốc bảo vệ thực vật giả. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T đã lập biên bản niêm phong, tạm giữ tang vật gồm 187 chai thuốc bảo vệ thực vật giả, nhiều dụng cụ liên quan khác.

Tại cơ quan điều tra, bị cáo X khai nhận vào ngày 01/6/2020 tại khu vực thị xã H, bị cáo X quen biết với người tên H1 (không biết họ tên, địa chỉ cụ thể) đã hướng dẫn cho bị cáo X biết cách sản xuất thuốc bảo vệ thực vật giả để bán thu lợi nhuận cao, H1 sẽ cung cấp công cụ, phương tiện và giới thiệu người tên T (không biết họ tên, địa chỉ cụ thể) để tiêu thụ sản phẩm sau khi sản xuất nên bị cáo X đồng ý. Đến ngày 15/6/2020, H1 gửi cho bị cáo X các dụng cụ, thiết bị sử dụng để sản xuất thuốc bảo vệ thực vật giả (máy đóng siêu, tem, nhãn, bao bì, phẩm màu). Ngày 21/6/2020, T điện thoại cho bị cáo X đặt hàng 120 chai thuốc bảo vệ thực vật giả gồm 40 chai nhãn hiệu Tilt Super 300EC, loại 250 ml; 40 chai nhãn hiệu Amistar Top 325SC, loại 250 ml và 40 chai nhãn hiệu Filia 525SE, loại 250 ml với giá 60.000 đồng/01chai, giao trong 03 ngày, địa điểm giao do T chọn và bị cáo X đồng ý. Bị cáo X đã cùng với người tên C (không rõ tên, địa chỉ) đi mua nguyên liệu, thu gom vỏ chai của 03 loại thuốc trên tại các tiệm phế liệu trên địa bàn huyện T, huyện N rồi mang về nhà rửa sạch và đến các cửa hàng vật tư nông nghiệp trên địa bàn huyện T, tỉnh Đồng Tháp và huyện C, tỉnh An Giang mua các loại thuốc bảo vệ thực vật khác như Centervin 50SC với giá 50.000 đồng/chai và Tungsuper 300EC với giá 55.000 đồng/chai để sản xuất thuốc bảo vệ thực vật giả tại nhà, cụ thể:

Đối với thuốc nhãn hiệu Amistar Top 325SC, loại 250 ml, bị cáo X sử dụng thuốc nhãn hiệu Centervin 50SC, loại 01 lít chiết vào trong vỏ chai thuốc hiệu Amistar Top 325SC, loại 250 ml đã được rửa sạch và dán nhãn giả, đóng nắp bằng máy đóng siêu rồi dán tem của công ty Syngenta.

Đối với thuốc nhãn hiệu Filia 525SE, loại 250 ml, bị cáo X sử dụng thuốc nhãn hiệu Centervin 50SC, loại 01 lít chiết vào trong vỏ chai thuốc hiệu Filia 525SE, loại 250 ml đã được rửa sạch và dán nhãn giả, nhỏ phẩm màu hồng cho giống màu thuốc thật (do thuốc Centervin 50SC có màu trắng sữa), đóng nắp bằng máy đóng siêu, lắc cho đều màu rồi dán tem của công ty Syngenta.

Đối với thuốc nhãn hiệu Tilt Super 300EC, loại 250 ml, bị cáo X sử dụng thuốc nhãn hiệu Tungsuper 300EC, loại 250ml của công ty Ngọc Tùng chiết vào trong vỏ chai thuốc hiệu Tilt Super 300EC, loại 250 ml đã được rửa sạch và dán nhãn giả, đóng nắp bằng máy đóng siêu rồi dán tem của công ty Syngenta.

Trung bình 01 chai thuốc nhãn hiệu Centervin 50SC, loại 01 lít với giá mua 50.000 đồng/chai, bị cáo X sản xuất được khoảng 03 chai thuốc hiệu Filia 525SE, loại 250 ml giả hoặc 03 chai thuốc hiệu Filia 525SE, loại 250 ml giả và 01 chai thuốc nhãn hiệu Tungsuper 300EC, loại 250ml với giá mua 55.000 đồng/chai thì sản xuất được 01 chai thuốc hiệu Tilt Super 300EC, loại 250 ml giả. Sau khi sản xuất thì bán lại với giá 60.000 đồng/chai.

Đến ngày 24/6/2020, T điện thoại cho bị cáo X hẹn giao nhận thuốc tại khu vực cầu Chợ Mới thuộc huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang nên bị cáo X đã lấy 40 chai Tilt Super 300EC, loại 250 ml; 40 chai Amistar Top 325SC, loại 250 ml và 40 chai Filia 525SE, loại 250 ml để vào trong hai thùng giấy dán lại rồi thuê ông Hà Văn B vận chuyển với giá 150.000 đồng nhưng khi xe vừa di chuyển đi thì bị lực lượng Công an kiểm tra, phát hiện thu giữ. Qua làm việc bị cáo X đã tự nguyện giao nộp số thuốc còn lại cùng với công cụ, nguyên liệu dùng vào việc sản xuất thuốc bảo vệ thực vật giả và chỉ mới sản xuất được một đợt, giao hàng thì bị phát hiện quả tang.

Tại kết quả trưng cầu giám định mẫu thuốc bảo vệ thực vật số 73/KĐKNTPN-KĐ ngày 13/8/2020, Trung tâm Kiểm định và Khảo nghiệm thuốc bảo vệ thực vật phía Nam đã trả lời:

1. Mẫu thuốc nhãn hiệu Amistar 250SC, loại 100 mL, giấy niêm phong số 01 ngày 17/7/2020 không chứa hoạt chất như đã đăng ký trong Danh mục thuốc Bảo vệ thực vật được phép sử dụng ở Việt Nam.

2. Mẫu thuốc nhãn hiệu Tilt Super 300EC, loại 250 mL, giấy niêm phong số 04 ngày 17/7/2020 không chứa hoạt chất như đã đăng ký trong Danh mục thuốc Bảo vệ thực vật được phép sử dụng ở Việt Nam.

3. Mẫu thuốc nhãn hiệu Amistar Top 325SC, loại 250 mL, giấy niêm phong số 05 ngày 17/7/2020 không chứa hoạt chất như đã đăng ký trong Danh mục thuốc Bảo vệ thực vật được phép sử dụng ở Việt Nam.

4. Mẫu thuốc nhãn hiệu Filia 525SE, loại 250 mL, giấy niêm phong số 06 ngày 17/7/2020 không chứa hoạt chất như đã đăng ký trong Danh mục thuốc Bảo vệ thực vật được phép sử dụng ở Việt Nam.

5. Mẫu thuốc nhãn hiệu Tilt Super 300EC, loại 250 mL, giấy niêm phong số 08 ngày 17/7/2020 không chứa hoạt chất như đã đăng ký trong Danh mục thuốc Bảo vệ thực vật được phép sử dụng ở Việt Nam.

Tại Bản kết luận định giá tài sản số 63/KL-HĐ ngày 22/9/2020 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện T đã kết luận:

- 78 chai thuốc bảo vệ thực vật nhãn hiệu Tilt Super 300EC, loại 250ml. Giá trị 15.756.000 đồng.

- 40 chai thuốc bảo vệ thực vật nhãn hiệu Amistar Top 325SC, loại 250ml. Giá trị 11.520.000 đồng.

- 40 chai thuốc bảo vệ thực vật nhãn hiệu Filia 525SE, loại 250ml. Giá trị 5.400.000 đồng.

- 29 chai thuốc bảo vệ thực vật nhãn hiệu Amistar 250SC, loại 100ml. Giá trị 4.727.000 đồng.

Tổng giá trị định giá: 37.403.000 đồng.

Tại Cơ quan điều tra, bị cáo Hà Bảo X đã thừa nhận toàn bộ hành vi sản xuất, buôn bán hàng giả là thuốc bảo vệ thực vật.

Tại bản án hình sự sơ thẩm số 15/2021/HSST ngày 24/3/2021, Tòa án nhân huyện T, tỉnh Đồng Tháp đã quyết định:

Tuyên bố bị cáo Hà Bảo X phạm tội “Sản xuất, buôn bán hàng giả là thuốc bảo vệ thực vật”.

Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 195; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự.

Xử phạt bị cáo Hà Bảo X 01 (một) năm tù, thời hạn tù được tính từ ngày bị cáo đi chấp hành án.

Ngoài ra bản án sơ thẩm còn quyết định hình phạt bổ sung, xử lý vật chứng, về trách nhiệm dân sự, án phí và quyền kháng cáo theo luật định.

Ngày 05 tháng 4 năm 2021, bị cáo Hà Bảo X kháng cáo với nội dung xin giảm nhẹ hình phạt, được hưởng án treo hoặc cải tạo không giam giữ. Lý do bị cáo là lao động chính duy nhất trong gia đình vì vợ bị cáo bị bệnh hở val tim 03 lá và con còn nhỏ, cha bị cáo là người có công cách mạng.

Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo Hà Bảo X giữ nguyên kháng cáo. Sau khi xét xử sơ thẩm, bị cáo X có nộp số tiền 20.200.000 đồng tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện T, tỉnh Đồng Tháp theo biên lai số 09437 ngày 11/5/2021 để nộp phạt bổ sung số tiền 20.000.000 đồng và nộp án phí hình sự sơ thẩm số tiền 200.000 đồng, hoàn cảnh kinh tế khó khăn, đồng thời bị cáo đang phụng dưỡng cha mẹ ruột.

Kiểm sát viên tham gia phiên tòa phát biểu quan điểm của Viện kiểm sát: Đơn kháng cáo của bị cáo Hà Bảo X nộp trong thời hạn luật định nên hợp lệ. Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo X thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội như bản án sơ thẩm đã xét xử nên Tòa án cấp sơ thẩm tuyên bố bị cáo Hà Bảo X phạm tội “Sản xuất, buôn bán hàng giả là thuốc bảo vệ thực vật” được quy định tại điểm a khoản 1 Điều 195 Bộ luật hình sự là phù hợp với các tình tiết, chứng cứ của vụ án, có đủ căn cứ, đúng quy định của pháp luật. Xét kháng cáo của bị cáo X xin giảm nhẹ hình phạt tù, được hưởng án treo hoặc cải tạo không giam giữ nhận thấy sau khi xét xử sơ thẩm bị cáo X có nộp phạt bổ sung số tiền 20.000.000 đồng, đây là tình tiết mới quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự; về nhân thân thì bị cáo X chưa có tiền án, tiền sự, có nơi cư trú rõ ràng, bị cáo là lao động chính duy nhất trong gia đình, vợ bị cáo bị bệnh hở val tim và con còn nhỏ, cha bị cáo là người có công cách mạng, bị cáo đang phụng dưỡng cha mẹ già. Căn cứ vào Điều 65 Bộ luật hình sự, khoản 1 Điều 357 Bộ luật tố tụng hình sự, đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm giữ nguyên mức án 01 năm tù nhưng cho bị cáo X được hưởng án treo, thời gian thử thách theo quy định của pháp luật.

Bị cáo Hà Bảo X không tranh luận với Kiểm sát viên tham gia phiên tòa. Lời nói sau cùng bị cáo X mong Hội đồng xét xử phúc thẩm xem xét kháng cáo xin được hưởng án treo hoặc cải tạo không giam giữ để bị cáo ở nhà lo cho cha mẹ ruột, vợ con và hứa sẽ trở thành công dân tốt, có ích cho xã hội.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Đơn kháng cáo của bị cáo Hà Bảo X nộp trong thời hạn hạn luật định nên hợp lệ và được xét xử theo trình tự phúc thẩm.

Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo Hà Bảo X thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của bị cáo. Lời khai nhận tội của bị cáo X phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử phúc thẩm có đủ cơ sở xác định:

Bị cáo X từng hành nghề buôn bán thuốc bảo vệ thực vật. Để có tiền tiêu xài, bị cáo nảy sinh ý định sản xuất, buôn bán thuốc bảo vệ thực vật giả để vụ lợi. Bị cáo X đã liên lạc với H1; C; T (không rõ tên, địa chỉ) cung cấp hàng mẫu, nhãn hiệu, máy móc thiết bị; thu gom các chai thuốc đã qua sử dụng trên địa bàn các huyện T, N của tỉnh Đồng Tháp, mua nguyên liệu trên địa bàn huyện T, tỉnh Đồng Tháp và các huyện Phú Tân, Chợ mới của tỉnh An Giang rồi mang về nhà ở của bị cáo tại ấp H, xã T, huyện T, tỉnh Đồng Tháp. Để thực hiện hành vi sản xuất thuốc bảo vệ thực vật giả, bị cáo X sử dụng 01 chai thuốc Centervin 50SC loại 1000ml để chiết xuất thành 03 đến 04 chai Amistars Top 325SC loại 250ml hoặc chiết xuất thành 03 đến 04 chai Filia 525SE loại 250ml; sử dụng 01 chai thuốc hiệu Tungsuper 300EC loại 250ml để chiết xuất thành 01 chai Tilt Super 300EC loại 250ml. Với thủ đoạn nêu trên, từ ngày 21/6/2020 đến ngày 24/6/2020 bị cáo X đã sản xuất, buôn bán tổng cộng 187 chai thuốc bảo vệ thực vật giả, trị giá 37.403.000 đồng và trong lúc thuê ông Hà Văn Bằng vận chuyển đi tiêu thụ thì bị bắt.

Với hành vi nêu trên, Tòa án cấp sơ thẩm đã xử phạt bị cáo Hà Bảo X phạm tội “Sản xuất, buôn bán hàng giả là thuốc bảo vệ thực vật” theo điểm a khoản 1 Điều 195 Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng quy định pháp luật.

Về các thông tin ghi nhận tại phần lý lịch của bị cáo: Tại lý lịch bị can (bút lục số 109), Công an xã T, huyện T, tỉnh Đồng Tháp chứng nhận về tôn giáo của bị can X: Phật. Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo X cũng khai nhận bị cáo theo đạo phật. Tuy nhiên bản án sơ thẩm ghi nhận tôn giáo không là chưa phù hợp. Nội dung này được Hội đồng xét xử phúc thẩm điều chỉnh vào phần đầu của bản án phúc thẩm.

[4 Xét kháng cáo xin giảm hình phạt, xin được hưởng án treo hoặc cải tạo không giam giữ của bị cáo Hà Bảo X:

[4.1 Khi quyết định hình phạt, Tòa án cấp sơ thẩm đã xem xét tình tiết người phạm tội thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự cho bị cáo X là phù hợp.

Sau khi xét xử sơ thẩm, bị cáo X có cung cấp tình tiết bị cáo đã nộp phạt bổ sung số tiền 20.000.000 đồng theo biên lai số 09437 ngày 11/5/2021 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện T, tỉnh Đồng Tháp; cha của bị cáo là ông Hà Văn H có giấy chứng nhận tham gia dân công hỏa tuyến, là người có công cách mạng; hoàn cảnh kinh tế khó khăn, đang phụng dưỡng cha mẹ, vợ bệnh, con nhỏ, bị cáo là lao động chính duy nhất trong gia đình đã được chính quyền địa phương xác nhận và đây là tình tiết mới quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Mặc dù bị cáo X có tình tiết mới quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự, nhưng mức án 01 năm tù mà Tòa án cấp sơ thẩm đã xử phạt bị cáo X là phù hợp với tính chất, mức độ, hậu quả của hành vi phạm tội, nhân thân bị cáo nên kháng cáo xin giảm hình phạt, xin được hưởng án treo hoặc cải tạo không giam giữ của bị cáo Hà Bảo X không được Hội đồng xét xử phúc thẩm chấp nhận.

[5 Những ý kiến, quan điểm của Kiểm sát viên tham gia phiên tòa đề nghị giữ nguyên mức án 01 năm tù nhưng cho bị cáo Hà Bảo X được hưởng án treo, thời gian thử thách theo quy định của pháp luật, do chưa phù hợp với phân tích và nhận định nêu trên nên không được Hội đồng xét xử phúc thẩm chấp nhận.

Bị cáo X phải chịu án phí hình sự phúc thẩm theo quy định của pháp luật.

[7 Các phần quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 355 và Điều 356 Bộ luật tố tụng hình sự.

Không chấp nhận kháng cáo xin giảm hình phạt, xin được hưởng án treo hoặc cải tạo không giam giữ của bị cáo Hà Bảo X.

Giữ nguyên bản án hình sự sơ thẩm số: 15/2021/HSST ngày 24 tháng 3 năm 2021 của Tòa án nhân dân huyện T, tỉnh Đồng Tháp.

Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 195; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự.

Tuyên bố bị cáo Hà Bảo X phạm tội “Sản xuất, buôn bán hàng giả là thuốc bảo vệ thực vật”.

Xử phạt bị cáo Hà Bảo X 01 (một) tù. Thời hạn tù được tính từ ngày bị cáo đi chấp hành án.

Về án phí: Bị cáo Hà Bảo X phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự phúc thẩm.

Các phần quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị theo quy định của pháp luật.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ