vanban.org

Bản án 257/2020/HSPT — Hình sự

TAND cấp cao tại Đà Nẵng Tuyên án 21/09/2020 Hình sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 21/09/2020 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Không chấp nhận kháng cáo của b cáo Nguyễn Võ Ngọc B và giữ nguyên Bản án hình sự s thẩm số 47/2020/HS-ST ngày 11/6/2020 của Tòa án nhân dân tỉnh Khánh Hòa.

Xử phạt b cáo Nguyễn Võ Ngọc B hình phạt Tử hình về tội “Giết người”. Xử phạt b cáo Nguyễn Võ Ngọc B 07 ( ảy) năm tù về tội “Cướp tài sản”. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Võ Ngọc B - phạm tội giết người (điều 123 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Không chấp nhận kháng cáo của b cáo Nguyễn Võ Ngọc B và giữ nguyên Bản án hình sự s thẩm số 47/2020/HS-ST ngày 11/6/2020 của Tòa án nhân dân tỉnh Khánh Hòa.
  • Căn cứ chính? Điều 123 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TẠI ĐÀ NẴNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 257/2020/HSPT
Ngày: 21-9-2020

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI ĐÀ NẴNG

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trương Minh Tuấn

Các thẩm phán:

Ông Nguyễn Tấn Long

Ông Mai Xuân Thành

- Thư ký phiên tòa: Bà Văn Thị Mỹ Thảo, Thư ký Tòa án nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng tham gia phiên tòa: Ông Quách Đức Dũng, Kiểm sát viên.

Vào ngày 21 tháng 9 năm 2020, tại Trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Khánh Hòa xét xử phúc thẩm vụ án hình sự thụ lý số 276/2020/TLPT-HS ngày 30 tháng 7 năm 2020 đối với cáo Nguyễn Võ Ngọc B về tội “Giết người”, “Cướp tài sản”. Do có kháng cáo của b cáo đối với Bản án hình sự s thẩm số 47/2020/HS-ST ngày 11-6-2020 của Tòa án nhân dân tỉnh Khánh Hòa. Theo Quyết đ nh đưa vụ án ra xét xử số 1503/2020/QĐXXPT-HS ngày 24 tháng 8 năm 2020.

- Bị cáo có kháng cáo:

Nguyễn Võ Ngọc B, sinh ngày 13 tháng 02 năm 2000, tại Khánh Hòa; N i cư trú: thôn T, xã C, huyện C1, tỉnh Khánh Hòa; nghề nghiệp: không; trình độ học vấn: 09/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Thiên chúa giáo; quốc t ch: Việt Nam; con ông Nguyễn Trí M và à Võ Th Kim H1 (chết); Vợ, con: chưa; tiền án, tiền sự: chưa; cáo tạm giam từ ngày 07 tháng 01 năm 2019; b cáo có mặt tại phiên tòa.

* Người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Võ Ngọc B: Luật sư Nguyễn Duy D1, luật sư thuộc Văn phòng Luật sư Đ, Đoàn Luật sư tỉnh Khánh Hòa; có mặt.

* Bị hại:

- Ch Võ Th Kim H1, sinh năm 1974; chết ngày 05 tháng 01 năm 2019.

- Cháu Nguyễn Võ Chí T1, sinh ngày 26 tháng 8 năm 2013; chết ngày 05 tháng 01 năm 2019. * Người đại diện hợp pháp của bị hại:

- Ông Võ B1 - là cha đẻ của ch Võ Th Kim H1; sinh năm 1932; n i cư trú: thôn T, xã C, huyện C1, tỉnh Khánh Hòa; vắng mặt.

- Anh Nguyễn Trí M - là chồng của ch Võ Th Kim H1; sinh năm 1972; n i cư trú: thôn T, xã C, huyện C1, tỉnh Khánh Hòa; có mặt.

- Anh Nguyễn Võ Ngọc D - là con đẻ của ch Võ Th Kim H1; sinh năm 1993; n i cư trú: thôn T, xã C, huyện C1, tỉnh Khánh Hòa; có mặt. Ông Võ B1 và anh Nguyễn Võ Ngọc D ủy quyền cho anh Nguyễn Trí M theo Giấy xác nhận ủy quyền vấn đề dân sự trong vụ án hình sự ngày 05 tháng 02 năm 2020. * Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ch Trần Th Thùy A; sinh năm 1976; đ a chỉ: số 298 Đại lộ H3, tổ dân phố L, phường C2, thành phố C3, tỉnh Khánh Hòa; vắng mặt. * Người làm chứng: 1. Cháu Võ Đức Th, sinh ngày 28 tháng 9 năm 2002 Người giám hộ của cháu Th: Ch Nguyễn Th H2- là mẹ đẻ của cháu Th; sinh năm 1978; n i cư trú: thôn T, xã C, huyện C1, tỉnh Khánh Hòa; có mặt. 2. Ch Võ Th Phư ng A1; sinh năm 1992; n i cư trú: thôn T, xã C, huyện C1, tỉnh Khánh Hòa; vắng mặt. 3. Ch Huỳnh Th Thu Tr; sinh năm 1994; n i cư trú: thôn T, xã C, huyện C1, tỉnh Khánh Hòa; vắng mặt. 4. Anh Võ Thành Nh; sinh năm 1995; n i cư trú: thôn T, xã C, huyện C1, tỉnh Khánh Hòa; vắng mặt. 5. Cháu Lê Văn Vt, sinh năm 2004 Người giám hộ của cháu V: Ch Võ Th Thu H4 - là mẹ đẻ của cháu Việt; sinh năm 1972; n i cư trú: thôn T, xã C, huyện C1, tỉnh Khánh Hòa; có mặt. 6. Ch Nguyễn Th H5; sinh năm 1967; n i cư trú; thôn T, xã C, huyện C1, tỉnh Khánh Hòa; vắng mặt. 7. Anh Võ Văn C5; sinh năm 1971; n i cư trú; thôn T, xã C, huyện C1, tỉnh Khánh Hòa; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ s vụ án và diễn iến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Anh Nguyễn Trí M và ch Võ Th Kim H1 đăng ký kết hôn từ năm 1992 và có 03 con chung là: Nguyễn Võ Ngọc D, Nguyễn Võ Ngọc B và Nguyễn Võ Chí T1, sinh ngày 26 tháng 8 năm 2013, cùng cư trú tại thôn T, xã C, huyện C1, tỉnh Khánh Hòa.

Sáng ngày 05 tháng 01 năm 2019, anh M, ch H1 và D đi làm, B và T1 ở nhà. Đến khoảng 10 giờ 00 phút cùng ngày, sau khi sử dụng thảo mộc khô chứa chất ma túy 5-Fluoro MDMB-PICA tại nhà thì B nảy sinh ý đ nh giết T1. B đóng cửa chính và cửa sắt ên hông nhà lại, mở nhạc lớn và lấy 02 cây rựa (01 cây rựa cán ngắn có lưỡi dài khoảng 26cm và 01 cây rựa cán dài có lưỡi khoảng 34cm) ở sau nhà ỏ dưới gầm tủ tivi. Lúc này, T1 đang đứng ch i trong phòng khách thì B lấy cây rựa cán ngắn cầm ằng 02 tay đi đến chém 02 nhát trúng vào đầu của T1 làm T1 tử vong tại chỗ, hộp sọ đứt lìa, lộ não. Sau đó, B kéo xác T1 vào phòng tắm, dùng con dao cán sắt làm ếp cắt nhỏ phần não của T1 rồi ỏ vào ồn cầu xả trôi xuống hầm rút. Sau đó, B rửa hết máu trên người T1 rồi ế xác T1 để lên giường ngủ trong phòng D và lấy 01 cái chăn cuốn xác T1 lại, rồi giấu 02 cây rựa trong phòng ngủ của B.

Đến khoảng 11 giờ 45 phút ngày 05 tháng 01 năm 2019, ch H1 điều khiển xe máy BKS 79Z1-098.07 về nhà rồi đi xuống ếp để nấu ăn. Lúc này, B vào phòng ngủ của B lấy cây rựa cán ngắn rồi đi đến chỗ ch H1 đang nấu ăn, B dùng rựa chém nhiều nhát vào vùng đầu, mặt ch H1 làm ch H1 ngã xuống nền ếp, làm cây rựa cán ngắn cong nên B đi vào phòng lấy cây rựa cán dài rồi tiếp tục chém nhiều nhát vào vùng đầu, mặt, cổ, ngực của ch H1 cho đến khi ch H1 tử vong. B kéo xác ch H1 để lên giường cạnh xác T1 rồi lấy 01 điện thoại di động hiệu OPPO và 01 chiếc nhẫn kim loại màu vàng ch H1 đang đeo trên tay. Sau đó, B tiếp tục sang phòng ch H1 lục tìm lấy thêm 01dây chuyền, 01 lắc tay, 05 nhẫn kim loại màu vàng và 100.000 đồng. Sau đó, B điều khiển xe máy iển số 79Z1- 098.07 ỏ trốn đến tiệm điện thoại di động HH, đ a chỉ: tổ dân phố L, phường C2, thành phố C3, tỉnh Khánh Hòa án điện thoại OPPO cho ch Trần Th Thùy A, sinh năm 1976 với giá 2.200.000 đồng rồi ỏ trốn. Đến khoảng 17 giờ 00 phút cùng ngày, anh M đi làm về phát hiện ch H1 và cháu T1 tử vong nên trình áo c quan Công an.

Đến tối ngày 06 tháng 01 năm 2019, qua công tác điều tra, C quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Khánh Hòa đã ắt giữ được B khi đang lẩn trốn tại xã L1, huyện T2, tỉnh Ninh Thuận cùng một số tang vật. Tại Bản kết luận giám đ nh pháp y về tử thi số 10/TT-TTPY ngày 11 tháng 01 năm 2019 của Trung tâm pháp y tỉnh Khánh Hòa kết luận nguyên nhân tử vong của Võ Th Kim H1:

- Chấn thư ng sọ não: rách da đầu, xư ng hộp sọ vỡ, xư ng nền sọ vỡ.

- Vỡ nhãn cầu.

- Xư ng gò má, xư ng hàm trên, xư ng hàm dưới vỡ.

- Vết thư ng cổ gây đứt c ức đòn chũm, khí quản, thực quản, động mạch cảnh và xư ng cột sống cổ.

- Nguyên nhân tử vong: Đa chấn thư ng. Tại Bản kết luận giám đ nh pháp y về tử thi số 11/TT-TTPY ngày 11 tháng 01 năm 2019 của Trung tâm pháp y tỉnh Khánh Hòa kết luận nguyên nhân tử vong của Nguyễn Võ Chí T1:

- Chấn thư ng sọ não: Đứt lìa hộp sọ, xư ng nền sọ vỡ phức tạp, não vỡ vụn thành nhiều mảnh.

- Nguyên nhân tử vong: Chấn thư ng sọ não. Tại Bản kết luận giám đ nh số 2500/C09B ngày 03 tháng 6 năm 2019 của Viện khoa học hình sự Bộ Công an tại TP Hồ Chí Minh kết luận: Thảo mộc khô đựng trong 01 gói giấy ạc, được niêm phong gửi giám đ nh không tìm thấy các chất ma túy và tiền chất trong Danh mục các chất ma túy và tiền chất của Ngh đ nh 73/2018/NĐ-CP của Chính phủ ngày 15 tháng 5 năm 2018. Mẫu thảo mộc này có thành phần 5-Fluoro MDMB-PICA là chất ma túy mới thuộc nhóm cần sa tổng hợp chưa được đưa vào trong Danh mục các chất ma túy và tiền chất của Chính phủ. Khối lượng: 22,0939 gam. Tại Bản kết luận giám đ nh pháp y về AND số 3.129-2019/AND ngày 10 tháng 6 năm 2019 của Trung tâm pháp y thành phố Hồ Chí Minh kết luận:

- AND của Võ Th Kim H1 có hiện diện trong: Toàn ộ phần lưỡi cây rựa chặt đứt một phần cán (lưỡi dài khoảng 34cm). Toàn ộ phần cán cây rựa chặt đứt một phần cán (lưỡi dài khoảng 34cm) Toàn ộ phần lưỡi cây rựa (lưỡi dài khoảng 26cm). Toàn ộ phần cán cây rựa (lưỡi dài khoảng 26cm).

- AND của Nguyễn Võ Chí T1 có hiện diện trong:

Toàn ộ phần cán cây rựa chặt đứt một phần cán (lưỡi dài khoảng 34cm)

Toàn ộ phần lưỡi cây rựa (lưỡi dài khoảng 26cm).

Toàn ộ phần cán cây rựa (lưỡi dài khoảng 26cm).

- AND của Nguyễn Võ Chí T1 không hiện diện trong toàn ộ phần lưỡi cây rựa chặt đứt một phần cán (lưỡi dài khoảng 34cm).

Tại Bản kết luận giám đ nh pháp y về tâm thần số 374/KL-VPYTW ngày 11 tháng 7 năm 2019 của Viện pháp y tâm thần Trung ư ng Biên Hòa kết luận tình trạng tâm thần của Nguyễn Võ Ngọc B:

- Về Y học:

Trước, trong và sau khi gây án: Đư ng sự

ệnh Rối loạn tâm thần và hành vi do sử dụng chất gây ảo giác với các rối loạn tri giác (F16.04-ICD.10).

Hiện nay: Đư ng sự không có rối loạn tâm thần.

- Về năng lực nhận thức và điều khiển hành vi:

Tại thời điểm gây án: Đư ng sự mất năng lực nhận thức và điều khiển hành vi

Hiện nay: Đư ng sự có đủ năng lực nhận thức và điều khiển hành vi

Tại Kết luận của Chủ t ch Hội đồng đ nh giá tài sản trong Tố tụng hình sự tại tỉnh Khánh Hòa số 3899/KL-HĐĐGTS ngày 04 tháng 11 năm 2019 kết luận về giá của các tài sản sau:

Điện thoại OPPO F7 Ram 4GB, ộ nhớ 64GB: 3.493.000 đồng.

Nhẫn tròn tr n, màu vàng: 296.020 đồng.

Đối với các tài sản khác ằng kim loại màu vàng: Do không có c sở xác đ nh khối lượng vàng, nên không đủ điều kiện cần thiết để xác đ nh giá tr tài sản. Vì vậy Hội đồng đ nh giá từ chối việc đ nh giá đối với các tài sản nêu trên (theo quy đ nh tại điểm c khoản 1 Điều 10 Ngh đ nh số 30/2018/NĐ-CP ngày 07/3/2018 của Chính Phủ).

Tại Kết luận của Chủ t ch Hội đồng đ nh giá tài sản trong Tố tụng hình sự tại tỉnh Khánh Hòa số 170/KL-HĐĐGTS ngày 15 tháng 01 năm 2020 kết luận về giá tr của xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA loại Jupiter, iển số 79Z1-098.07 là 12.400.000 đồng.

Vật chứng tạm giữ:

- 01 con dao cán sắt, 02 cây rựa cán gỗ.

- Lượng thảo mộc khô còn lại sau giám đ nh (16,3089 gam).

- 1.160.000 đồng. Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 47/2020/HS-ST ngày 11/6/2020, Tòa án nhân dân tỉnh Khánh Hòa đã quyết định: Căn cứ vào điểm a, , đ, e, i khoản 1 Điều 123; Điều 13; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm e khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự,

- Xử phạt: B cáo Nguyễn Võ Ngọc B hình phạt Tử hình về tội “Giết người”. Căn cứ điểm d khoản 2 Điều 168; Điều 13; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự,

- Xử phạt B cáo Nguyễn Võ Ngọc B 07 ( ảy) năm tù về tội “Cướp tài sản”. Căn cứ điểm d khoản 1 Điều 55 Bộ luật hình sự, tổng hợp hình phạt của hai tội, uộc cáo Nguyễn Võ Ngọc B phải chấp hành hình phạt chung là Tử hình. Tiếp tục tạm giam cáo để đảm ảo thi hành án. Ngoài ra, ản án s thẩm còn quyết đ nh trách nhiệm dân sự, xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo theo quy đ nh của pháp luật. Ngày 24/6/2020 b cáo Nguyễn Võ Ngọc B có đ n kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt. Tại phiên tòa phúc thẩm b cáo Nguyễn Võ Ngọc B yêu cầu kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt, thừa nhận b cáo dùng rựa chém chết cháu T1 và ch H1 là em và mẹ của b cáo. Ông Nguyễn Trí M và anh Nguyễn Võ Ngọc D điều xin giảm nhẹ hình phạt cho b cáo. Kiểm sát viên đại diện cho Viện Kiểm sát nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng phát iểu quan điểm về việc giải quyết vụ án: Hành vi phạm tội của b cáo vào các điểm a, b, đ, e, i khoản 1 Điều 123 và điểm d khoản 2 Điều 168 BLHS 2015; Tòa án s thẩm đã xử phạt b cáo B mức án tử hình về tội “giết người”, 7 năm tù về tội “ Cướp tài sản”; tổng hợp hình phạt buộc b cáo phải chấp hành hình phạt chung là tử hình là có căn cứ và đúng pháp luật; tại cấp phúc thẩm b cáo không có tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự nào mới; do đó đề ngh Tòa án phúc thẩm ác kháng cáo của b cáo và giữ nguyên bản án s thẩm. Người ào chữa cho b cáo Nguyễn Võ Ngọc B trình ày quan điểm ào chữa: Thống nhất với nhận đ nh và quan điểm của kiểm sát viên đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng, Tòa án s thẩm xử phạt mức án tử hình là đúng; tuy nhiên đề ngh xem xét gia đình cáo B đã mất hai người là mẹ và em ruột của b cáo, nếu tử hình mất thêm cáo.

B cáo đồng ý với lời ào chữa và không có ý kiến gì thêm;

Ông Nguyễn Trí M có ý kiến: gia đình tôi đã mất hai người ây giờ không muốn mất thêm cáo, đề ngh Tòa án xem xét.

Anh Nguyễn Võ Ngọc D không có ý kiến gì.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên c sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ s vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận đ nh như sau:

Hành vi phạm tội: Khoảng 10 giờ 00 phút ngày 05 tháng 01 năm 2019, tại nhà ông Nguyễn Trí M thuộc thôn T, xã C, huyện C1, tỉnh Khánh Hòa, sau khi sử dụng cần sa tổng hợp có thành phần 5-Flouro MDMB-PICA, Nguyễn Võ Ngọc B đã dùng 2 tay cầm 01 cây rựa cán ngắn, phần lưỡi bằng kim loại dài khoảng 26 cm, chém 02 nhát vào vùng đầu cháu Nguyễn Võ Chí T1 làm cháu chết tại chỗ, sau đó dùng con dao cán sắt làm ếp cắt nhỏ phần não của T1 rồi ỏ vào ồn cầu xả trôi xuống hầm rút. Đến khoảng 11 giờ 45 phút cùng ngày, Nguyễn Võ Ngọc B sử dụng 01 cây rựa cán ngắn, phần lưỡi bằng kim loại dài khoảng 26 cm chém nhiều nhát vào vùng đầu, mặt ch H1 làm ch H1 ngã xuống nền bếp, làm cây rựa b cong phần lưỡi nên B lấy cây rựa cán dài, phần lưỡi bằng kim loại dài khoảng 34 cm, rồi tiếp tục chém nhiều nhát vào vùng đầu, mặt, cổ, ngực của ch H1 làm ch H1 (mẹ ruột của b cáo) chết tại chỗ. Tại Bản kết luận giám đ nh pháp y về tâm thần số 374/KL-VPYTW ngày 11 tháng 7 năm 2019 của Viện pháp y tâm thần Trung ư ng Biên Hòa ( út lục 109 - 110) kết luận tình trạng tâm thần của Nguyễn Võ Ngọc B: “Trước, trong và sau khi gây án: Đư ng sự b bệnh Rối loạn tâm thần và hành vi do sử dụng chất gây ảo giác với các rối loạn tri giác (F16.04-ICD.10)… Tại thời điểm gây án: Đư ng sự mất năng lực nhận thức và điều khiển hành vi.”; “Hiện nay: Đư ng sự không có rối loạn tâm thần. Đư ng sự có đủ năng lực nhận thức và điều khiển hành vi”; theo quy đ nh tại Điều 13 Bộ luật hình sự b cáo Nguyễn Võ Ngọc B phải ch u trách nhiệm hình sự theo quy đ nh pháp luật. Căn cứ vào hành vi phạm tội b cáo đã thực hiện, Tòa án s thẩm đã xử phạt b cáo về hai tội “Giết người” và “Cướp tài sản” là đúng người và đúng pháp luật.

Xét kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của b cáo Nguyễn Võ Ngọc B, thấy:

Hành vi phạm tội của b cáo Nguyễn Võ Ngọc B là đặc biệt nghiêm trọng và nguy hiểm cho xã hội. Trong một khoảng thời gian ngắn, b cáo giết chết 02 người: cháu Nguyễn Võ Chí T1 (sinh ngày 26 tháng 8 năm 2013) là em ruột của b cáo và ch Võ Th Kim H1 là mẹ đẻ của b cáo; khi các hại đã chết, b cáo đã chiếm đoạt tài sản của ch H1 có tr giá 16.289.000 đồng. Hành vi phạm tội của b cáo được thực hiện một cách man rợ, tàn ạo, thuộc các trường hợp đ nh khung hình phạt “giết 02 người”, “giết người dưới 16 tuổi”, “giết mẹ của mình”, “giết người mà ngay sau đó lại thực hiện một tội phạm rất nghiêm trọng”, “thực hiện tội phạm một cách man rợ” theo các điểm a, , đ, e, i khoản 1 Điều 123 Bộ luật hình sự, với tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự phạm tội đến cùng quy đ nh tại điểm e khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự. Hành vi phạm tội của b cáo đã xâm phạm trực tiếp đến tính mạng của con người, đồng thời gây mất trật tự tr an tại đ a phư ng, gây phẫn nộ trong xã hội, gây đau thư ng mất mát cho người thân của b hại; b cáo thực hiện tội phạm với nhiều tình tiết đ nh khung tăng nặng, thể hiện ác tính rất cao, không còn khả năng giáo dục, cải tạo. Đối với hành vi cướp tài sản của b cáo Nguyễn Võ Ngọc B dùng rựa tấn công b hại, sau đó chiếm đoạt tài sản, phạm tội “Cướp tài sản” thuộc trường hợp “Sử dụng phư ng tiện nguy hiểm” theo điểm d khoản 2 Điều 168 Bộ luật hình sự. Tòa án s thẩm đã áp dụng đầy đủ các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và phạt b cáo mức hình phạt cao nhất, loại bỏ vĩnh viễn b cáo Nguyễn Võ Ngọc B ra khỏi đời sống xã hội là có căn cứ đúng pháp luật tư ng xứng với tính chất, mức độ và hậu quả do hành vi phạm tội của b cáo đã gây ra. [2.2] Tại Tòa án cấp phúc thẩm, b cáo Nguyễn Võ Ngọc B kháng cáo cho rằng mức án tử hình là nặng xin giảm nhẹ hình phạt, nhưng b caó không có tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự nào mới khác; các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của b cáo đã được Tòa án s thẩm áp dụng đầy đủ. Do đó, Tòa án cấp phúc thẩm không chấp nhận kháng cáo của b cáo Nguyễn Võ Ngọc B, giữ nguyên quyết đ nh bản án s thẩm. Nhận đ nh của Kiểm sát viên đại diện cho Viện Kiểm sát nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng phù hợp với nhận đ nh của Hội đồng xét xử được chấp nhận. [3] Các quyết đ nh khác của bản án s thẩm số 47/2020/HS-ST ngày 11/6/2020 của Tòa án nhân dân tỉnh Khánh Hòa về trách nhiệm dân sự, xử lý vật chứng, án phí hình sự s thẩm không kháng cáo, kháng ngh đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng ngh . [4] Án phí hình sự phúc thẩm b cáo Nguyễn Võ Ngọc B phải ch u số tiền: 200.000, đồng (Hai trăm ngàn đồng) theo quy đ nh tại khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng Hình sự; Ngh quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy an Thường vụ Quốc hội quy đ nh về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356, Điều 367 Bộ luật tố tụng hình sự;

Căn cứ vào khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng Hình sự, Ngh quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy an Thường vụ Quốc hội quy đ nh về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án;

1. Không chấp nhận kháng cáo của b cáo Nguyễn Võ Ngọc B và giữ nguyên Bản án hình sự s thẩm số 47/2020/HS-ST ngày 11/6/2020 của Tòa án nhân dân tỉnh Khánh Hòa.

Căn cứ vào điểm a, , đ, e, i khoản 1 Điều 123; Điều 13; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm e khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự năm 2015 (Sửa đổi, ổ sung năm 2017).

Xử phạt b cáo Nguyễn Võ Ngọc B hình phạt Tử hình về tội “Giết người”.

Căn cứ điểm d khoản 2 Điều 168; Điều 13; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 (Sửa đổi, ổ sung năm 2017).

Xử phạt b cáo Nguyễn Võ Ngọc B 07 ( ảy) năm tù về tội “Cướp tài sản”.

Căn cứ điểm d khoản 1 Điều 55 Bộ luật hình sự năm 2015 (Sửa đổi, ổ sung năm 2017), tổng hợp hình phạt của hai tội, uộc cáo Nguyễn Võ Ngọc B phải chấp hành hình phạt chung là Tử hình.

Tiếp tục tạm giam cáo để đảm ảo thi hành án.

2. Trong thời hạn 07 ( ảy) ngày kể từ ngày ản án có hiệu lực pháp luật(ngày tuyên án, ngày 21/9/2020), cáo Nguyễn Võ Ngọc B được gửi đ n xin ân giảm lên Chủ t ch nước.

3. Các Quyết đ nh khác của bản án hình sự s thẩm số: 47/2020/HS-ST ngày 11/6/2020 của Tòa án nhân dân tỉnh Khánh Hòa về trách nhiệm dân sự, xử lý vật chứng, án phí hình sự s thẩm không có kháng cáo, kháng ngh đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng ngh .

4. Án phí hình sự phúc thẩm b cáo Nguyễn Võ Ngọc B phải ch u 200.000, đồng (Hai trăm ngàn đồng). Bản án hình sự phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án, ngày 21/9/2020.

Cỡ chữ