vanban.org

Bản án 257/2019/HSPT — Hình sự

TAND tỉnh Thanh Hóa Tuyên án 28/10/2019 Hình sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 28/10/2019 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

1, Không chấp nhận kháng cáo của Nguyễn Văn D, chấp nhận một phần kháng cáo của bị hại Trương Phú H, sửa bản án sơ thẩm về hình phạt của bị cáo D và L.

Bị cáo Nguyễn Văn D: 09 năm tù. Tổng hợp với 36 tháng tù của Bản án số 30/2014/HSST ngày 28/4/2014 của Tòa án nhân dân huyện HH. Buộc Nguyễn Văn D phải chấp hành là 12 năm tù nhưng được trừ thời hạn tạm giữ từ ngày 07/8/2013 đến ngày 16/8/2013 của Bản án số 30/2014/HSST ngày 28/4/2014 của Tòa án nhâ…

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Văn D và đồng phạm - phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác (điều 134 Luật sửa đổi, bổ sung một s…"
  • Tòa quyết gì? 1, Không chấp nhận kháng cáo của Nguyễn Văn D, chấp nhận một phần kháng cáo của bị hại Trương Phú H, sửa bản án sơ thẩm về hình phạt của bị cáo D và L.
  • Căn cứ chính? Điều 355 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 52 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH THANH HÓA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 257/2019/HSPT.
Ngày: 28/10/2019.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG H XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HÓA

Với thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Dung

Thẩm phán:

Bà Nguyễn Thị Chinh

Bà B Lan Phương

Thư ký ghi biên bản phiên tòa: Ông Dương Xuân Tú - Cán bộ Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hóa.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thanh Hóa tham gia phiên tòa: Bà Lê Thị Ngọc Hà – Kiểm sát viên

Ngày 28/10/2019 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hóa, xét xử phúc thẩm vụ án hình sự thụ lý số 52/2019/HSPT ngày 02/7/2019 đối với bị cáo: Nguyễn Văn D, Trương Văn Ldo có kháng cáo của các bị cáo đối với bản án hình sự sơ thẩm số 68/2019/HSST ngày 16/8/2019của TAND huyệnHH, Thanh Hóa.

Bị cáo kháng cáo:

1. Nguyễn Văn D (D bé), sinh ngày 26 tháng 4 năm 1995 tại Thanh Hóa; Nơi cư trú thôn HT, xã HP, huyện HH, tỉnh Thanh Hóa; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá 8/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn B và bà Lê Thị N; Có vợ là Lê Thị T (đã ly hôn); chưa có con; Tiền sự: Không; Tiền án: Ngày 28/4/2014 bị Tòa án nhân dân huyện HH xử phạt 36 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 05 năm kể từ ngày tuyên án sơ thẩm về tội “Cố ý gây thương tích”. Bị cáo bị tạm giữ, bị tạm giam 17/11/2018. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

2. Trương Văn L(Tèo sứt), sinh ngày 05 tháng 8 năm 1994 tại Thanh Hóa; Nơi cư trú thôn 6, xã HĐ, huyện HH, tỉnh Thanh Hóa; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trương Văn O (đã chết) và bà B Thị H; Chưa có vợ con; tiền sự: Không; Tiền án: Ngày 28/01/2016 bị Tòa án nhân dân huyện HH xử phạt 02 năm tù về tội “Cố ý gây thương tích”. Bị cáo chấp hành xong hình phạt vào ngày 04/5/2017. Bị cáo bị tạm giữ, bị tạm giam 07/12/2018. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

Ngườibị hại: Anh Trương Phú H, sinh năm 1987. Có mặt Trú tại: thôn TT 2, xã HT, huyện HH, tỉnh Thanh Hóa

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 23h ngày 14/3/2018, Trương Phú H ở thôn TT, xã HT, huyện HH đến phòng trọ của nhân viên quán “Hải Họ” tại thôn KT, xã HT, huyện HH ngồi uống Bia với Nguyễn Văn C (C khổ) ở thôn BS, xã HP, huyện HH. Tại phòng bên có Nguyễn Văn D (D bé), Trương Văn L(Tèo sứt) và Bùi Đình D (D Duyệt) ở xã HT, huyện HH đang ngồi chơi nói chuyện, thì Trương Phú H mang bia sang mời Bùi Đình D nhưng D không uống, nên giữa Nguyễn Văn D (D bé) và H có lời qua tiếng lại, xô xát lẫn nhau nhưng được mọi người can ngăn nên Trương Phú H ra về.

Sau khi về nhà được khoảng 5 phút thì H nhận được điện thoại của Nguyễn Văn C bảo ra khu vực Ngã năm thuộc thôn Kim Tân, xã HT, huyện HH để nói chuyện, H đi bộ ra Ngã năm thì bị Nguyễn Văn D, Trương Văn Lvà một số người dùng dao, tuýp sắt đánh vào vùng đầu, tay, bả vai trái, đùi trái và lưng. Lúc này có Trương Phú B (anh trai H), Lường Hữu H, Trương Quốc L đều ở xã HT đến can ngăn. Thấy vậy Nguyễn Văn D và một số người chạy về Công ty tài C Linh Lâm ở gần đó, còn Trương Văn L cầm 01 khẩu súng tự chế chĩa về nhóm của H không cho lùa theo, nhưng bị B dùng gậy vụt vào tay L làm súng rơi xuống đất nên Lường Hữu H nhặt khẩu súng cất giữ sau đó đưa lại cho ông Trương Phú C cùng ở xã HT để giao nộp cho Cơ quan điều tra Công an huyện HH. Do vết thương chảy máu nên Trương Phú H được mọi người đưa vào Trạm y tế xã HT khâu vết thương và điều trị.

Đến khoảng 00h 15 phút cùng ngày, biết Trương Phú H đang điều trị tại Trạm Y tế xã HT, Nguyễn Văn D và Trương Văn L mang dao tìm để đánh H. Lúc y sỹ Trương Phú Q đang khâu vết thương cho H thì Nguyễn Văn D, Trương Văn Lvà người tên T (sát thủ) xông vào gặp Trương Phú B. Trương Văn L vung dao chém, B đưa tay trái lên đỡ thì bị chém gần đứt lìa cổ tay, Nguyễn Văn D xông vào dùng dao chém vào đầu gối trái của Trương Phú H. Tiếp đó Trương Văn L, người có tên Tr (sát thủ) dùng dao chém vào đầu, người Trương Phú H, Trương Phú B và ông Trương Phú D (bố của B và H). Sau khi gây án Nguyễn Văn D, Trương Văn Lvà người tên là Tr (sát thủ) lên xe bỏ trốn.

Còn Trương Phú H, Trương Phú B được mọi người đưa đi cấp cứu tại bệnh viện đa khoa tỉnh Thanh Hóa và bệnh viện 108 Hà Nội. Còn ông D điều trị tại trạm y tế xã HT.

Nhận được tin báo Cơ quan điều tra Công an huyện HH đã phối hợp tiến hành khám nghiệm hiện trường thu giữ: 01 khẩu súng tự chế dài 13,3cm; 01 vỏ đạn; 01 viên gạch nung kích thước 10 x 9,2 x 5,5cm, 01 viên gạch nung kích thước 15 x 8,5 x 5,5cm, 01 mảnh kính trắng kích thước 21,5 x 18 x 0,5cm, 01 mảnh kính trắng kích thước 21 x 7 x 0,5cm và 01 mũ bảo hiểm màu vàng.

Tại biên bản xác định tình trạng thương tích hồi 01h 00 phút ngày 15/3/2018 tại trạm y tế xã HT của Trương Phú H thể hiện:

- 01 vết thương vùng đỉnh đầu bên phải kích thước 5,6cm x0,5cm sâu sát xương, bờ mép sắc gọn;

- 01 vết thương rách da vùng mặt sau cánh tay trái kích thước 2,5cm x 0,5cm, bờ mép sắc gọn;

- 01 vết thương rách da vùng bả vai trái kích thước 2,5cm x 0,5cm x 1,5cm, bờ mép sắc gọn;

- 01 vết thương rách da vùng ngang bả vai trái đến xương sống kích thước 15cm x 0,5cm x 0,2cm, bờ mép sắc gọn;

- 01 vết thương rách da ngang lưng kích thước 25cm x 0,2cm x 0,1cm, bờ mép sắc gọn;

- 01 vết thương vùng mặt sau 1/3 đùi trái kích thước 2,5cm x 0,5cm x 1,5cm, bờ mép sắc gọn.

Tại biên bản xác định tình trạng thương tích hồi 04h 35 phút ngày 15/3/2018 tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh Thanh Hóa của Trương Phú H thể hiện:

- 01 vết thương rách da vùng đỉnh đầu kích thước 2cm x 4cm, bờ mép sắc gọn;

- 01 vết thương rách da vùng cánh tay trái kích thước 1,5 cm x 1cm, bờ mép sắc gọn;

- 01 vết thương rách da vùng đầu gối trái kích thước 4cm x 6cm đứt gân cơ lộ xương, bờ mép sắc gọn.

*Tại bản kết L giám định pháp y về thương tích số285/2018/TTPY ngày 10/5/2018 của Tr tâm giám định pháp y tỉnh Thanh Hóa kết L: Hiện tại tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên của anh Trương Phú H là 39%.

Tại biên bản xác định tình trạng thương tích hồi 04h 53 phút ngày 15/3/2018 tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh Thanh Hóa của Trương Phú B thể hiện:

- 01 vết thương rách da vùng thái dương phải kích thước 10cm x 2cm, bờ mép sắc gọn;

- 01 vết thương rách da vùng dưới xương bả vai phải kích thước 10cm x 2cm, bờ mép sắc gọn;

- Tại vùng cổ tay trái có 01 vết thương phức tạp được bó mạch thần kinh trụ, thần kinh giữa, đứt gân cơ, bờ mép sắc gọn;

- 01 vết thương rách da vùng mu bàn tay phải kích thước 1cm x 0,5cm, bờ mép sắc gọn.

* Tại bản kết L giám định pháp y về thương tích số: 288/2018/TTPY ngày 11/5/2018 của Tr tâm giám định pháp y tỉnh Thanh Hóa kết L: Hiện tại tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên của anh Trương Phú B là 49%.

Tại biên bản xác định tình trạng thương tích hồi 02h 30 phút ngày 15/3/2018 tại trạm y tế xã HT của Trương Phú D thể hiện: 01 vết thương rách da vùng đỉnh đầu bên phải kích thước 1,5cm x 0,1cm, bờ mép sắc gọn. Do vết thương nhẹ nên ông Hồng từ chối giám định và không yêu cầu xử lý hình sự.

Sau khi phạm tội Nguyễn Văn D và Trương Văn L đã bỏ trốn khỏi địa phương. Cơ quan điều tra Công an tỉnh Thanh Hóa đã khởi tố bị can và ra lệnh truy nã số 32, 33/QĐTN/CQĐT/PC44 ngày 14/8/2018 đối với Nguyễn Văn D và Trương Văn L. Đến ngày 17/11/2018 Nguyễn Văn D đã đến Công an tỉnh Hà Nam đầu thú; ngày 07/12/2018 Trương Văn L đến Công an huyện HH đầu thú.

Đối với khẩu súng và vỏ đạn thu giữ tại hiện trường CQĐT Công an tỉnh Thanh Hóa đã trưng cầu gám định số 86/CQĐT ngày 31/3/2018. Tại kết L giám định số790/PC54 ngày 19/4/2018 của phòng kỷ thuật hình sự Công an tỉnh Thanh Hóa kết L:

- 01 khẩu súng kiểu súng ngắn ổ quay, bằng kim loại màu xám, không có số kí hiệu, dài 13,3cm gửi đến giám định là súng tự chế kiểu súng ngắn ổ quay. Hiện tại khẩu súng này còn sử dụng bắn được và khi bắn có tính năng tác dụng tương tự như vũ khí quân dụng.

- 01 vỏ đạn hình trụ tròn, bằng kim loại màu vàng, dài 15mm, đường kính trong miệng vỏ đạn 5,2mm là vỏ đạn của loại đạn thể thao cỡ 5,6 x 15,5mm.

- Từ chối giám định do vượt quá khả năng giám định vỏ đạn gửi đến giám định là có phải do khẩu súng gửi đến giám định bắn ra hay không?

Ngày 11/6/2018 CQCSĐT Công an tỉnh Thanh Hóa ra Quyết định trưng cầu giám định bổ sung số 681/PC44 để xác định vỏ đạn gửi giám định có phải được bắn ra từ khẩu súng gửi giám định hay không?

* Tại kết L giám định số 3166/C54(P3) ngày 11/7/2018 của Viện khoa học Hình sự của Tổng cục cảnh sát Bộ Công an kết L: Vỏ đạn gửi giám định được bắn ra từ khẩu súng kiểu ổ quay dài 13,3cm gửi giám định.

Về trách nhiệm dân sự: Quá trình điều trị Trương Phú B và Trương Phú H đã chi phí điều trị và yêu cầu bồi thường như sau: Đối với Trương Phú B yêu cầu bồi thường 200.000.000đ, Trương Phú H 180.000.000đ.

Về vật chứng của vụ án: 01 khẩu súng tự chế dài 13,3cm; 01 vỏ đạn CQĐT Công an huyện HH đã nhập cho vật chứng theo quy định; 01viên gạch nung kích thước 10 x 9,2 x 5,5cm, 01 viên gạch nung kích thước 15 x 8,5 x 5,5cm, 01 mảnh kính trắng kích thước 21,5 x 18 x 0,5cm, 01 mảnh kính trắng kích thước 21 x 7 x 0,5cm, 01 mũ bảo hiểm màu vàng. Hiện nay đã chuyển đến Chi cục thi hành án Dân sự huyện HH để chờ xét xử. Đối với 02 con dao D và L dùng để gây thương tích, sau khi phạm tội đã bỏ trốn nên cơ quan điều tra không thu giữ được.

Tại bản án hình sự sơ thẩm số 68/2019/HSST ngày 16/8/2019 của TAND huyện HH, tỉnh Thanh Hóa đã quyết định:

Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Văn D, Trương Văn L phạm tội “Cố ý gây thương tích”.

Căn cứ vào: Điểm đ khoản 4 Điều 134; điểm s khoản 1, khoản2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38; Điều 17; Điều 58 (Đối với D, L); Thêm Điều 56 BLHS(ĐốivớiD);

Xử phạt:

- Bị cáo Nguyễn Văn D: 08 (tám) năm tù. Tổng hợp với 36 tháng tù của Bản án số 30/2014/HSST ngày 28/4/2014 của Tòa án nhân dân huyện HH. Buộc Nguyễn Văn D phải chấp hành là 11(mười một) năm tù nhưng được trừ thời hạn tạm giữ từ ngày 07/8/2013 đến ngày 16/8/2013 của Bản án số 30/2014/HSST ngày 28/4/2014 của Tòa án nhân dân huyện HH. Thời gian chấp hành hình phạt tù kể từ ngày 17/11/2018.

- Bị cáo Trương Văn L: 07 (bảy) năm 06 tháng tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù kể từ ngày 07/12/2018.

Ngoài ra án sơ thẩm còn tuyên bồi thường dân sự, xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo của những người tham gia tố tụng.

Ngày 30/8/2019, bị cáo D có đơn kháng cáo đề nghị tòa phúc thẩm giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Ngày 26/8/2019, bị hại Trương Phú H kháng cáo đề nghị hủy bản án sơ thẩm để điều tra xét xử lại theo thủ tục sơ thẩm theo hướng chuyển tội dnah của các bị cáo sang tội giết người; tăng nặng hình phạt của các bị cáo; làm rõ các tình tiết, xác định thêm các đối tượng đồng phạm trong vụ án

* Tại phiên tòa phúc thẩm: Bị cáo D và bị hại H giữ nguyên nội dung kháng cáo.

Đại diện VKSND tỉnh Thanh Hóa đề nghị: Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo D. Chấp nhận một phần kháng cáo của bị hại về hình phạt. Sửa bản án sơ thẩm theo hướng áp dụng thêm tình tiết tăng nặng theo điểm e khoản 1 điều 52 BLHS đối với 02 bị cáo và tăng hình phạt của bị cáo D từ 06 – 09 tháng tù. L từ 06 – 12 tháng tù.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Xét kháng cáo của bị hại Trương Phú H về tội danh thấy rằng:

Qua những tài liệu, chứng cứ thu thập trong quá trình điều tra thể hiện do mâu thuẫn trong việc Trương Phú H mời Bùi Đình D (D Duyệt) uống bia nhưng D không uống, nên giữa Nguyễn Văn D (D bé), và H xảy ra xô xát lẫn nhau, mặc dù được mọi người can ngăn, nhưng hai bên lại tiếp tục xô xát tại khu vực Ngã năm thuộc thôn Kim Tân, xã HT, huyện HH. Nguyễn Văn D, Trương Văn Ldùng dao, tuýp sắt đánh vào vùng đầu, tay, bả vai trái, đùi trái và lưng anh H. Tiếp đó biết anh H đang điều trị tại Trạm Y tế xã HT nên D, L và một người có tên là Tr sát thủ mang dao tìm để đánh anh H. Tại đây L chém anh Trương Phú B gần đứt lìa cổ tay, D xông vào dùng dao chém vào đầu gối trái của Trương Phú H, còn Trương Văn L, người có tên Tr (sát thủ) dùng dao chém vào đầu, người Trương Phú H, Trương Phú B và ông Trương Phú D (bố của B và H). Hậu quả gây nên thương tích cho anh Trương Phú H là 39%, anh Trương Phú B là 49%.

Xét nguyên nhân xảy ra vụ án là xuất phát từ bất đồng nhỏ nhặt, hai bên trước đó không có mâu thuẫn, thù hằn gì. Về ý thức chủ quan, các bị cáo không thừa nhận muốn tước đoạt tính mạng của các bị hại. Về hành vi khách quan sau khi chém gây thương tích cho các bị hại tại trạm y tế, các đối tượng gây án lên xe tẩu thoát. Khách thể xâm phạm là thân thể, sức khỏe của các bị hại. Xét động cơ, mục đích, các yếu tố cấu thành tội phạm và hậu quả thương tích thì không đủ cơ sở kết L các bị cáo phạm tội giết người như quan điểm kháng cáo của anh Trương Phú H. Do đó, các cơ quan tiến hành tố tụng câp sơ thẩm khởi tố, truy tố và xét xử bị cáo Nguyễn Văn D, Trương Văn Lvề tội “Cố ý gây thương tích” theo điểm đ khoản 4 Điều 134 Bộ luật hình sự là đúng người, đúng tội và phù hợp pháp luật.

[2] Xét kháng cáo của bị cáo D và của bị hại Trương Phú H về hình phạt thấy rằng:

Hành vi phạm tội của Nguyễn Văn D, Trương Văn Llà rất nghiêm trọng và nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm và làm thiệt hại đến sức khỏe của người khác, gây mất trật tự trị an trong khu vực, hành vi thể hiện sự manh động, ngang tàng, xem thường sức khỏe của người khác và xem thường pháp luật. Bản thân cả hai bị cáo đều đang có tiền án về tội “Cố ý gây thương tích”, lần này lại tiếp tục hành vi gây thương tích cho người khác. Do đó cần phải xử lý nghiêm nhằm giáo dục bị cáo và răn đe phòng ngừa chung.

Xét ngoài tình tiết tăng nặng của Nguyễn Văn D là tái phạm nguy hiểm và bị cáo Trương Văn Llà tái phạm được quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật hình sự, thì trong vụ án này giữa các bị cáo và hại H chỉ có mâu thuẫn nhỏ nhặt, với bị hại B thì không hề có mâu thuẫn, va chạm gì nhưng các bị cáo dùng hung khí nguy hiểm tấn công các bị hại, hành vi thể hiện sự côn đồ, hung hãn theo Điểm i Khoản 1 Điều 134 BLHS. Sau khi gây thương tích cho anh H tại khu vực Ngã năm thuộc thôn Kim Tân, xã HT, huyện HH, biết bị hại đang điều trị tại Trạm Y tế xã HT thì D, L và một người có tên là Tr sát thủ mang dao tìm để đánh anh H và tại đây L chém B gần đứt lìa cổ tay, D chém vào đầu gối trái của Trương Phú H. Tiếp đó Trương Văn L, người có tên Tr (sát thủ) dùng dao chém vào đầu, người Trương Phú H, Trương Phú B và ông Trương Phú D (bố của B và H) thể hiện sự cố tình thực hiện tội phạm đến cùng là tình tiết tăng nặng theo điểm e khoản 1 điều 52 BLHS. Do đó thống nhất với quan điểm của đại diện VKSND tỉnh Thanh Hóa không chấp nhận kháng cáo của bị cáo D, chấp nhận kháng cáo của bị hại tăng hình phạt của D và L mới tương xứng với tính chất, mức độ phạm tội của các bị cáo.

[3] Xét kháng cáo của bị hại Trương Phú H về việc làm rõ các đối tượng đồng phạm thấy rằng:

Ngày 24/6/2019 Tòa án nhân dân huyện HH đã Quyết định trả hồ sơ để điều tra bổ sung với nội dung làm rõ các đối tượng đồng phạm trong vụ án.

Ngày 28/6/2019 Viện kiểm sát nhân dân huyện HH giữ nguyên quyết định truy tố tại Bản cáo trạng số 44/ Ctr - VKSHS ngày 08 tháng 5 năm 2019 của Viện kiểm sát nhân dân huyện HH, tỉnh Thanh Hóa.

Đánh giá các tài liệu chứng cứ thì không có căn cứ nào xác định ngoài D, L và một đối tượng tên là Tr (sát thủ) chỉ có hành vi dùng hung khí gây thương tích cho anh H, anh Hưng thì còn có đối tượng nào khác tham gia hỗ trợ về mặt tinh thần, vật chất cho các bị cáo gây án. Bản thân các bị hại cũng không nhận diện, không xác định rõ được danh tính của các các đối tượng khác mà bị hại cho rằng có hành vi đồng phạm trọng vụ án. Đối tượng tên là Tr (sát thủ) hiện chưa xác định được tên tuổi quán, cơ quan điều tra tách ra để điều trả làm rõ được sẽ xử lý bằng vụ án khác. Vì vậy không có căn cứ chấp nhận kháng cáo của bị hại về nội dung này.

Các phần khác của án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị toà không xem xét. Kháng cáo không được chấp nhận nên bị cáo D phải chịu án phí Hình sự phúc thẩm. Bị hại không phải chịu án phí HSPT

Vì các lẽ trên;

Căn cứ Điểm a, b Khoản 1 Điều 355, Điểm a Khoản 2 Điều 357 BLTTHS.

QUYẾTĐỊNH

1, Không chấp nhận kháng cáo của Nguyễn Văn D, chấp nhận một phần kháng cáo của bị hại Trương Phú H, sửa bản án sơ thẩm về hình phạt của bị cáo D và L.

Căn cứ: Điểm đ Khoản 4 Điều 134; Điểm s Khoản 1, Khoản2 Điều 51; Điểm h Khoản 1 Điều 52; Điều 38; Điều 17; Điều 58; Điểm e Khoản 1 Điều 52 BLHS (Đối với D, L); Thêm Điều 56 của BLHS (Đối với D). Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 quy định về án phí, lệ phí Tòa án.

Xử phạt:

- Bị cáo Nguyễn Văn D: 09 năm tù. Tổng hợp với 36 tháng tù của Bản án số 30/2014/HSST ngày 28/4/2014 của Tòa án nhân dân huyện HH. Buộc Nguyễn Văn D phải chấp hành là 12 năm tù nhưng được trừ thời hạn tạm giữ từ ngày 07/8/2013 đến ngày 16/8/2013 của Bản án số 30/2014/HSST ngày 28/4/2014 của Tòa án nhân dân huyện HH. Thời gian chấp hành hình phạt tù kể từ ngày 17/11/2018.

- Bị cáo Trương Văn L: 08 năm 06 tháng tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù kể từ ngày 07/12/2018.

2, Án phí: Bị cáo D phải nộp 200.000đ án phí HSPT.

3, Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

Cỡ chữ