vanban.org

Bản án 257/2019/DS-PT — Đòi bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng về tài sản

TAND tỉnh Bình Dương Tuyên án 12/11/2019 Dân sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 12/11/2019 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn ông Nguyễn Văn C.

Giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số 36/2019/DS-ST ngày 17/7/2019 của Tòa án nhân dân huyện D, tỉnh Bình Dương. Án phí dân sự phúc thẩm: Ông Nguyễn Văn C được miễn nộp. Cơ quan T2 huyện D, tỉnh Bình Dương trả lại cho ông Nguyễn Văn C 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí đã nộp theo B… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Đòi bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng về tài sản — án dân sự — "Đòi bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng về tài sản"
  • Tòa quyết gì? Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn ông Nguyễn Văn C.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 148 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH BÌNH DƯƠNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 257/2019/DS-PT
Ngày 12-11-2019
V/v tranh chấp bồi thường thiệt hại ngoài
hợp đồng

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH DƯƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đào Minh Đa

Các Thẩm phán:

Ông Nguyễn Văn Tài

Bà Trần Thị Thanh Trúc

- Thư ký phiên tòa: Bà Dương Thị Kim Thoa – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương.

- i di n i n i

nh n d n nh nh ươn ha ia phiên tòa: Bà Đặng Hà Nhung - Kiểm sát viên.

Trong các ngày 05 và 12/11/2019 tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Bình Dương xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 268/2019/TLPT-DS ngày 24/9/2019 về việc “tranh chấp yêu cầu bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng”.

Do Bản án dân sự sơ thẩm số 36/2019/DS-ST ngày 17/7/2019 của Tòa án nhân dân huyện D, tỉnh Bình Dương bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 272/2019/QĐPT-DS ngày 15/10/2019 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Ông Nguyễn Văn C, sinh năm 1955; địa chỉ: Ấp Đ1, xã T1, huyện D, tỉnh Bình Dương.

Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn: Bà Trịnh Thị Â, sinh năm 1967; địa chỉ: Ấp Đ1, xã T1, huyện D, tỉnh Bình Dương (văn bản ủy quyền ngày 14/12/2018).

- Bị đơn: Ban Q huyện D, tỉnh Bình Dương; địa chỉ: Khu phố 4B, thị trấn D, huyện D, tỉnh Bình Dương.

Người đại diện hợp pháp của bị đơn: Ông Lâm Tấn Đ2, sinh năm 1985; chức vụ: Phó Giám đốc (văn bản ủy quyền ngày 02/10/2018).

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1. Bà Trịnh Thị Â, sinh năm 1967 (vợ ông C); địa chỉ: Ấp Đ1, xã T1, huyện D, tỉnh Bình Dương.

2. Công ty Trách nhiệm hữu hạn K; địa chỉ: Số 08, đường X, ấp M, xã L1, huyện B, tỉnh Bình Dương.

Người đại diện hợp pháp: Bà Phạm Mỹ K, chức vụ: Giám đốc.

3. Công ty Trách nhiệm hữu hạn Tư vấn Xây dựng N; địa chỉ: Khu phố Y, thị trấn D, huyện D, tỉnh Bình Dương.

Người đại diện hợp pháp: Ông Hoàng Bá L2, chức vụ: Giám đốc.

4. Cơ quan U huyện D, tỉnh Bình Dương; địa chỉ: Khu phố N, thị trấn D, huyện D, tỉnh Bình Dương.

- Người kháng cáo: Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn là bà Trịnh Thị Â.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Nguyên đơn trình bày: Khoảng tháng 5/2015, Ban Q huyện D, tỉnh Bình Dương xây dựng chợ A tại ấp Phú Bình, xã A, huyện D, tỉnh Bình Dương. Chợ A được xây dựng ngay trên con mương nước tự nhiên của ấp P chảy xuống sông T2. Nhà của ông Nguyễn Văn C được xây dựng ngay phía trước chợ A từ năm 2002. Khi xây dựng chợ, đơn vị thi công đổ đất làm nền chợ cao hơn căn nhà của gia đình ông C và bít mương nước, đơn vị thi công không tiến hành móc mương, không đặt cống thoát nước làm cho nước mưa chảy dồn ép, hậu quả làm nhà ông C bị nứt tường, nghiêng nhà, nghiêng cột, gia đình ông C không sinh sống được và bỏ hoang nhà từ ngày 29/9/2015 đến nay.

Ông C khởi kiện yêu cầu Ban Q phải bồi thường phần sửa chữa nhà (sửa chữa toàn bộ vết nứt, vết hư hỏng đối với căn nhà có diện tích xây dựng tầng trệt 132 m2, một trệt, một lầu), bồi thường thiệt hại do thu nhập bị mất, do không sinh sống trong căn nhà nói trên, không lao động tạo thu nhập (buôn bán, may đồ từ ngày 30/9/2015 đến ngày 01/8/2017, mỗi ngày 600.000 đồng); tổng số tiền ông C yêu cầu bồi thường 405.000.000 đồng.

Bị đơn trình bày: Công trình chợ A đã được phê duyệt báo cáo kinh tế kỹ thuật tại Quyết định số O/QĐ-UBND ngày 31/10/2014, phê duyệt kết quả lựa chọn nhà thầu gói thầu xây lắp và thiết bị kèm theo xây lắp tại Quyết định số U/QĐ-BQL ngày 09/4/2015. Đơn vị trúng thầu thi công là liên doanh Công ty Trách nhiệm hữu hạn K và Công ty Trách nhiệm hữu hạn Tư vấn Xây dựng N đã khởi công xây dựng từ ngày 14/5/2015 (Lệnh khởi công số H/LKC-BQL). Đến ngày 16/9/2015, Ban Q nhận được đơn khiếu nại của ông Nguyễn Văn C; ngày 30/9/2015, Ban Q phối hợp cùng Cơ quan U xã A, nhà thầu thi công xây dựng chợ A và đại diện hộ gia đình ông C kiểm tra hiện trạng nhà của ông C. Sau khi kiểm tra đã xác định nhà ông C có vết nứt tường, cột nghiêng nhưng không xác định được nguyên nhân nên các bên thống nhất lập biên bản ghi nhận ý kiến của ông C trình cấp thẩm quyền xin ý kiến chỉ đạo. Ngày 01/10/2015, cơ quan U huyện D ban hành Công văn số I/UBND-NC về việc giải quyết đơn công dân. Nội dung văn bản yêu cầu Giám đốc Ban Q chủ trì, phối hợp các cơ quan, đơn vị liên quan khẩn trương tiến hành thẩm tra, xác định trách nhiệm, đề xuất hướng giải quyết và báo cáo cơ quan U huyện chỉ đạo.

Ngày 12/10/2015, Ban Q đã phối hợp cùng Phòng Q, cơ quan U xã A, đơn vị thi công xây dựng chợ A và đại diện hộ ông C đến tại nhà ông C để kiểm tra hiện trạng thực tế. Sau khi kiểm tra, Đoàn kiểm tra ghi nhận việc nứt tường, cột nghiêng của hộ nhà ông C là có thực tế nhưng không xác định được nguyên nhân gây nứt tường, nghiêng cột xảy ra trước hay sau khi trời mưa (đêm ngày 28/9/2015). Đại diện hộ ông C xác định nhà bị nứt tường, nghiêng cột là do đơn vị thi công đắp đất sân chợ A làm thay đổi dòng chảy nên khi đêm ngày 28/9/2015 mưa nhiều, lưu lượng lớn chảy sát nhà gây nứt tường, nghiêng cột nhà ông C. Ông C yêu cầu đơn vị thi công có trách nhiệm khắc phục thiệt hại cho gia đình ông. Ghi nhận ý kiến của gia đình ông C, Đoàn kiểm tra đã lập biên bản làm việc và trình cấp thẩm quyền xin ý kiến chỉ đạo.

Qua nhiều lần giải quyết khiếu nại của ông C, ngày 06/5/2016, Ban Q đã có Báo cáo số E/BC-BQL về tình hình giải quyết đơn khiếu nại của hộ ông C thì Ban Q phối hợp với đơn vị thi công thuê đơn vị tư vấn, kiểm định chất lượng độc lập xác định nguyên nhân gây nứt tường, cột nghiêng nhà của ông C, trường hợp nguyên nhân gây nứt tường, nghiêng cột nhà là do đơn vị thi công gây ra thì đơn vị thi công có trách nhiệm chi trả kinh phí thẩm định và bồi thường thiệt hại cho hộ ông C, ngược lại nguyên nhân gây nứt tường, nghiêng cột do nguyên nhân khác gây ra thì hộ ông C phải chịu toàn bộ chi phí, nhưng hộ ông C không đồng ý nên đã làm đơn khởi kiện.

Công trình chợ A được xây dựng trên quy hoạch chợ và khu phố chợ đúng theo bản vẽ quy hoạch được phê duyệt tại Quyết định số G/QĐ-UBND ngày 04/12/2008 của Cơ quan U huyện D về việc phê duyệt quy hoạch chi tiết công trình chợ và khu phố chợ A, huyện D, tỉnh Bình Dương. Giai đoạn 1 đã xây dựng lòng chợ, vị trí móng nhà lòng chợ cách vị trí móng nhà phía sau của hộ ông C 19m nên không gây ảnh hưởng tới móng nhà của ông C gây nứt tường, cột nghiêng. Phần san nền xây dựng đường vào lòng chợ theo thiết kế phần nền hạ sau khi san nền cao hơn nền đất tự nhiên hiện hữu từ 100 – 350mm chỉ làm giảm bớt lượng nước chảy vào nhà ông C chứ không như ông C trình bày.

Theo chứng thư giám định số VLG7471/17/EXIMA-GD của Công ty Cổ phần Thẩm định giá E và theo kết luận của Công ty Trách nhiệm hữu C1 cũng đều xác định, công trình liền kề của Ban Q không phải là nguyên nhân gây ra sự cố nứt tường nhà của ông C, bà Â. Ban Q không đồng ý bồi thường theo yêu cầu của ông C, bà Â.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Trịnh Thị Â trình bày: Bà Â thống nhất với ý kiến của ông C.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

Công ty Trách nhiệm hữu hạn K (viết tắt Công ty K) trình bày:

Công ty K và Công ty Trách nhiệm hữu hạn Tư vấn Xây dựng N (viết tắt Công ty N) cùng liên doanh nhận thầu xây dựng công trình chợ A với tên giao dịch là liên doanh Công ty K và Công ty N. Theo Quyết định số L/QĐ-BQL ngày 09/4/2015 của Ban Q về việc phê duyệt kết quả lựa chọn nhà thầu công trình chợ A, gói thầu xây lắp công trình thì nhà thầu được trúng thầu là liên doanh Công ty K và Công ty N, với giá trúng thầu 2.123.321.543 đồng, thời gian thực hiện hợp đồng 90 ngày.

Ngày 14/5/2015, liên doanh Công ty K và Công ty N cùng ký Hợp đồng thi công xây dựng công trình chợ A số Ô/2015/HĐ-XD với chủ đầu tư (bên giao thầu) là Ban Q. Cùng ngày, Ban Q đã phát lệnh khởi công công trình chợ A số 12/LKC-BQL. Thực hiện hợp đồng đã ký, liên doanh Công ty K và Công ty N đã tiến hành xây dựng công trình chợ A. Ngày 26/10/2016, bên chủ đầu tư và bên nhà thầu đã nghiệm thu hoàn thành công trình xây dựng để đưa vào sử dụng. Đến nay, liên doanh Công ty K và Công ty N, Ban Q đã thanh lý Hợp đồng thi công xây dựng số Ô/2015/HĐ-XD nêu trên.

Ông C cho rằng công trình chợ A đã ảnh hưởng đến nhà ông C làm tường bị nứt, nghiêng nhà và yêu cầu Ban Q bồi thường thiệt hại thì Công ty K không có ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của ông C, đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định pháp luật.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

Công ty N trình bày:

Thống nhất trình bày của Công ty K về việc cùng liên doanh nhận thầu xây dựng công trình chợ A, về ký Hợp đồng thi công xây dựng số Ô/2015/HĐ-XD ngày 14/5/2015, việc đã nghiệm thu hoàn thành công trình xây dựng để đưa vào sử dụng và thanh lý hợp đồng.

Ông C cho rằng công trình chợ A đã ảnh hưởng đến nhà ông C bị nứt tường, nghiêng nhà và yêu cầu Ban Q bồi thường thiệt hại. Công ty N không có ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của ông C, đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định pháp luật.

Tại Công văn số R/UBND-NC ngày 22/02/2019, Cơ quan U huyện D có ý kiến:

Dự án công trình chợ A do Ban Q huyện D làm chủ đầu tư theo Quyết định số N/QĐ-UBND ngày 10/9/2014 về việc phê duyệt nhiệm vụ thiết kế, dự toán vốn chuẩn bị đầu tư công trình chợ A. Công trình chợ A xây dựng không phải là nguyên nhân gây ra sự cố nứt tường nhà ông C theo chứng thư giám định số V/17/E-GD ngày 31/10/2017. Đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định pháp luật.

Bản án dân sự sơ thẩm số 36/2019/DS-ST ngày 17/7/2019 của Tòa án nhân dân huyện D, tỉnh Bình Dương đã quyết định:

Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Nguyễn Văn C đối với bị đơn Ban Q huyện D (nay là Ban Q đầu tư xây dựng huyện D), tỉnh Bình Dương về việc “tranh chấp bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng”.

Ngoài ra, bản án còn tuyên về án phí dân sự sơ thẩm, chi phí xem xét thẩm định tại chỗ, đo đạc, chi phí giám định và quyền kháng cáo.

Ngày 19/7/2019, người đại diện hợp pháp của nguyên đơn là bà Trịnh Thị Â kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm, đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm xét xử lại vụ án theo hướng sửa bản án sơ thẩm, chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Tại phiên tòa phúc thẩm, nguyên đơn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, yêu cầu kháng cáo. Các đương sự không thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án.

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Dương phát biểu ý kiến:

Về tố tụng: Những người tham gia tố tụng và tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự tại Tòa án cấp phúc thẩm.

Về nội dung: Công văn số R/UBND-NC ngày 25/2/2019 của cơ quan U huyện D xác định Ban Q huyện D làm chủ đầu tư dự án công trình chợ A. Theo Chứng thư giám định số V17/E-GD của Công ty Cổ phần thẩm định giá E và kết luận của Công ty Trách nhiệm hữu hạn C đều xác định: Công trình liền kề của Ban Q huyện D không phải là nguyên nhân gây ra sự cố nứt tường nhà của ông C, bà Â. Nguyên đơn không đồng ý với 02 kết luận giám định nêu trên nhưng tại biên bản làm việc ngày 09/5/2019 và tại phiên tòa nguyên đơn xác định không yêu cầu giám định lại. Theo các biên bản xác minh của Tòa án nhân dân huyện D (bút lục số 499) thấy rằng khi công trình chợ A xây dựng, trong khoảng thời gian này có mưa và lượng nước mưa có chảy về những hộ dân sống gần khu vực chợ, trong đó có nhà nguyên đơn ông C nhưng lượng nước mưa không đáng kể. Do đó, nguyên đơn cho rằng nhà nguyên đơn bị hư hỏng là do công trình chợ A xây dựng dẫn tới nước chảy dồn về phía nhà nguyên đơn gây ra hiện tượng nứt tường, nghiêng cột là không có căn cứ.

Xét thấy kháng cáo của nguyên đơn là không có căn cứ chấp nhận. Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số 36/2019/DS-ST ngày 17/7/2019 của Tòa án nhân dân huyện D, tỉnh Bình Dương.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Về tố tụng:

Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn là bà Trịnh Thị Â kháng cáo toàn bộ bản án dân sự sơ thẩm, tại biên bản làm việc ngày 19/7/2019 của Tòa án cấp sơ thẩm đối với ông C, Bà Â thì ông C đồng ý ủy quyền cho Bà Â được làm đơn kháng cáo, ký tên trên đơn và các giấy tờ liên quan đến việc kháng cáo. Do đó, đơn kháng cáo của bà Â là phù hợp với quy định tại Điều 272 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Ông C, Bà Â không đồng ý với kết quả giám định tại Chứng thư giám định số V17/E-GD ngày 31/10/2017 của Công ty Cổ phần Thẩm định giá E và Báo cáo số I/BC-CAD ngày 07/8/2018 của Công ty Trách nhiệm hữu hạn C. Việc lựa chọn các công ty trên do ông C, bà Â yêu cầu, bên bị đơn đồng ý, không có ý kiến gì khác. Hội đồng xét xử phúc thẩm giải thích cho bà Â được quyền yêu cầu một đơn vị có chức năng giám định khác để yêu cầu giám định lại nhưng bà Â từ chối yêu cầu giám định lại, yêu cầu Tòa án xét xử theo thực tế thiệt hại. Do đương sự không có yêu cầu giám định lại nguyên nhân gây ra thiệt hại nên Tòa án căn cứ vào tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ để giải quyết vụ án theo thủ tục chung.

Về nội dung:

Theo biên bản xem xét thẩm định tại chỗ ngày 03/8/2017, Mảnh trích lục địa chính ngày 30/8/2017 của Chi nhánh Văn phòng Đ huyện D (bút lục số 225) thể hiện: Ông C, bà Â quản lý sử dụng diện tích đất 188,9m2; trên đất có căn nhà xây dựng năm 2003, diện tích 210,1m2 (tầng trệt 132,7m2; tầng 1 diện tích 77,4m2); đất, nhà chưa được cấp quyền sử dụng, quyền sở hữu.

Nguyên đơn cho rằng khi bị đơn xây dựng công trình chợ A ngay trên mương thoát nước tự nhiên có từ trước, không tiến hành móc mương, không đặt cống thoát nước, đổ mặt bằng cao hơn nhà ông C; do đó, đêm ngày 28/9/2015 mưa lớn nước chảy mạnh vào nhà, hậu quả là nhà ông C bị nứt tường, nhà nghiêng, gia đình ông C không sinh sống được, phải bỏ hoang nhà từ ngày 29/9/2015; đến khoảng tháng 5/2018, ông C tiếp tục trở về nhà sinh sống cho đến nay. Bị đơn cho rằng công trình chợ A không phải là nguyên nhân gây ra sự cố nứt tường, nghiêng nhà của gia đình ông C, trên bản đồ địa chính thể hiện khu đất xây dựng chợ là đất trống, không có mương thoát nước, thực tế cũng không có mương nước mà do những hộ dân sống xung quanh khu vực này tự thải nước sinh hoạt chảy tự do lênh láng tạo thành vũng, khi xây dựng chợ đã đổ đất san lấp những vũng nước này; hệ thống thoát nước không nằm trong thiết kế được phê duyệt nên không lắp đặt.

Đơn khiếu nại ngày 16/9/2015 của ông C có nội dung: “Thầu làm chợ ấp P không khai cống rãnh, đồng thời đắp cống ngay nhà ông C nên mưa xuống làm đất sét và nước ngập nhà ông C trơn trợt không có lối đi, đất đỏ sình lầy nhiều không sinh hoạt gia đình được dù ở hay buôn bán”, trong khi chờ giải quyết thì đêm 28/9/2015 xảy ra trận mưa lớn. Ngày 29/9/2015, cơ quan U xã A có biên bản xác minh hiện trạng thực tế thì công trình chợ A sang lấp mặt bằng cao hơn nhà của ông C nên khi mưa xuống và nước quá mạnh làm ảnh hưởng đến nhà ông C.

Các biên bản xác minh ngày 31/7/2017, ngày 12/3/2019 (các bút lục số: 268, 269, 270, 499) thể hiện: Công trình chợ A được xây dựng giáp đường nhựa Đ2, cách hành lang đường bộ khoảng 60m. Trước đây tại đoạn đường Đ2 hai bên mép hành lang đường bộ có mương thoát nước. Sau này những hộ dân sinh sống ở hai bên đường tại khu vực này xây nhà đã lấp mương, lấn chiếm hành lang đường bộ, trong đó có hộ ông C. Do mương nước bị lấp, đường dốc, khu đất xây dựng chợ bị trũng nên khi trời mưa nước chảy dồn về khu đất xây chợ. Khi xây dựng chợ, đơn vị thi công đổ đất làm nền chợ, nước không có đường thoát mà chảy tự nhiên theo độ dốc của con đường từ ngã tư xã A đến cầu P, nước chảy dồn về khu vực chợ A lượng nước rất lớn. Khu vực xung quanh đất ông C có địa hình bằng phẳng, con đường phía trước cao hơn đất, nhà ông C nên khi trời mưa thì nước chảy dọc theo hai mép đường và cũng có một lượng nước chảy vào nhà những hộ dân. Tại thời điểm xây dựng chợ và trước đó không có mương nước, khi mưa lớn thì nước chảy theo tự nhiên, có đổ dồn vào nhà dân trong đó có hộ ông C.

Theo yêu cầu của nguyên đơn (ông C), nguyên nhân hư hỏng nhà của ông C được Công ty Cổ phần Thẩm định giá E kết luận tại Chứng thư giám định số V17/E-GD ngày 31/10/2017, Báo cáo số I/BC-CAD ngày 07/8/2018 của Công ty Trách nhiệm hữu hạn C; cả 02 bản kết luận giám định đều xác định công trình chợ A không phải là nguyên nhân gây ra sự cố nứt tường nhà của ông C, bà Â. Quá trình tố tụng, nguyên đơn trình bày việc nứt tường, nghiêng nhà do cơn mưa ngày 28/9/2015 làm một lượng nước lớn chảy vào nhà. Các hình ảnh chụp nhà, đất và tại biên bản xác minh ngày 11/11/2019 thể hiện nhà ông C nằm độc lập, xung quanh là đất trống, không có nhà liền kề của người khác; chợ A xây dựng móng bê tông, gạch, mái tôn (chợ vòm), móng chợ cách nhà ông C 18,7m.

Như vậy, có căn cứ xác định công trình xây dựng chợ không phải là nguyên nhân trực tiếp làm hư hỏng nhà ông C; không có chứng cứ xác định công trình xây dựng chợ là nguyên nhân gián tiếp làm hư hỏng nhà ông C.

Điều 604 của Bộ luật Dân sự năm 2005 quy định về căn cứ phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại: Người nào có lỗi cố ý hoặc lỗi vô ý xâm phạm tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, uy tín, tài sản, quyền, lợi ích hợp pháp khác của cá nhân, xâm phạm danh dự, uy tín, tài sản của pháp nhân hoặc chủ thể khác mà gây thiệt hại thì phải bồi thường....

Đối chiếu với quy định của pháp luật đã viện dẫn ở trên thì không có căn cứ xác định trách nhiệm bồi thường thiệt hại của Ban Q đầu tư xây dựng huyện D, Công ty K và Công ty N đối với thiệt hại do hư hỏng nhà của ông C, bà Â.

Với những phân tích trên, kháng cáo của của nguyên đơn không có căn cứ nên được chấp nhận.

Ý kiến của đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Dương về việc không chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn, giữ nguyên bản án sơ thẩm là phù hợp.

Về án phí dân sự phúc thẩm: Ông Nguyễn Văn C, sinh năm 1955 là người cao tuổi, thuộc trường hợp được miễn nộp tiền án phí.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ Điều 148, khoản 1 Điều 308 và Điều 313 Bộ luật Tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án,

1. Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn ông Nguyễn Văn C.

Giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số 36/2019/DS-ST ngày 17/7/2019 của Tòa án nhân dân huyện D, tỉnh Bình Dương.

2. Án phí dân sự phúc thẩm: Ông Nguyễn Văn C được miễn nộp. Cơ quan T2 huyện D, tỉnh Bình Dương trả lại cho ông Nguyễn Văn C 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng số S ngày 19/7/2019.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.

Cỡ chữ