- Tranh chấp gì? án hình sự — "Trần Thanh T - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Trần Thanh T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? Điều 46 Bộ luật Hình sự; Điều 194 Bộ luật Hình sự; Điều 2 Nghị quyết số 41/2017/QH14 Về việc thi hành Bộ luật Hình sự…
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NAM ĐỊNH TỈNH NAM ĐỊNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 257/2017/HSST Ngày: 11-8-2017 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NAM ĐỊNH TỈNH NAM ĐỊNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Diện
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Ngô Kim Thành
2. Bà Vương Thị Minh Tân
- Thư ký phiên toà: Ông Hoàng Anh Tuấn - Thư ký Toà án nhân dân thành phố Nam Định tỉnh Nam Định.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nam Định tham gia phiên tòa: Ông Ngô Đức Sang - Kiểm sát viên.
Ngày 11 tháng 8 năm 2017, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Nam Định, xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 243/2017/HSST ngày 07-7-2017 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 243/2017/QĐ-HSST ngày 01-8-2017, đối với bị cáo:
Họ và tên: Trần Thanh T - sinh năm 1978;
Đăng ký hộ khẩu thường trú và nơi ở: Số 61 đường HY, phường QT, thành phố Nam Định, tỉnh Nam Định;
Dân tộc: Kinh;
Quốc tịch: Việt Nam;
Nghề nghiệp: không;
Trình độ văn hóa: lớp 12/12;
Con ông: Trần Văn T - sinh năm 1953;
Con bà: Trần Thị Nh - sinh năm 1949;
Vợ: Vũ Thị H - sinh năm 1973;
Có 01 con sinh năm 2014;
Tiền án; tiền sự: không;
Nhân thân: Ngày 29-7-2016, Tòa án nhân dân thành phố Nam Định áp dụng khoản 1 Điều 194, khoản 1 Điều 25 của Bộ luật Hình sự năm 1999 miễn trách nhiệm hình sự về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”;
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 13-5-2017, sau đó chuyển tạm giam từ ngày 19-5-2017 đến nay tại Nhà tạm giữ Công an thành phố Nam Định (có mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 11 giờ ngày 13-5-2017, tại khu vực đầu ngõ 151 đường Lương Thế Vinh, phường Cửa Bắc, thành phố Nam Định, tổ công tác Đội 6 Phòng cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội - Công an tỉnh Nam Định đã tiến hành kiểm tra hành chính đối với Trần Thanh T. T đã tự giác giao nộp 01 gói nhỏ nilon màu hồng trong là giấy bạc màu vàng có chứa chất bột dạng cục màu trắng (T khai là Heroine), 01 xi lanh và 01 ống Novocain. Tổ công tác đã niêm phong vật chứng và đưa T cùng người làm chứng về trụ sở lập biên bản bắt người phạm tội quả tang. Bản kết luận số 392/GĐKTHS ngày 16-5-2017 của Phòng kỹ thuật Hình sự Công an tỉnh Nam Định kết luận: Chất bột dạng cục màu trắng được niêm phong trưng cầu giám định là chất ma túy; loại chất ma túy là Heroine, có trọng lượng (khối lượng) là 0,127gam.
Tại cơ quan điều tra, Trần Thanh T khai: Khoảng 10 giờ cùng ngày, T đi bộ từ nhà đến hiệu thuốc tân dược trên đường Trần Đăng Ninh mua 01 xi lanh và 01 ống Novocain với giá 2000 đồng cất vào túi quần sau đó đi đến ngõ 151 đường Lương Thế Vinh, thành phố Nam Định mua của một người đàn ông không rõ lai lịch 01 gói ma túy với giá 100.000 đồng rồi cầm trên tay đi tìm nơi sử dụng thì bị bắt giữ.
Bản cáo trạng số 254/QĐ-KSĐT ngày 07-7-2017 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nam Định truy tố Trần Thanh T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 1 Điều 194 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên toà, bị cáo Trần Thanh T khai: Ngày 13-5-2017, bị cáo mua 01 gói Heroine với giá 100.000 đồng, trên đường mang về nhà sử dụng thì bị bắt giữ.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nam Định giữ quyền công tố luận tội và tranh luận: Giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo theo toàn bộ nội dung bản cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng khoản 1 Điều 194, điểm p khoản 1, khoản 2 Điều 46 của Bộ luật Hình sự, Nghị quyết số 41/2017/QH14 ngày 20-6-2017 của Quốc hội; xử phạt bị cáo từ 21 tháng đến 24 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; không áp dụng hình phạt bổ sung; áp dụng Điều 41 của Bộ luật Hình sự và Điều 76 của Bộ luật Tố tụng hình sự xử lý vật chứng đã thu giữ.
Bị cáo không có ý kiến tranh luận. Bị cáo nói lời sau cùng: Đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố Nam Định, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nam Định, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Trần Thanh T không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện trong vụ án đều hợp pháp.
Bị cáo đã có hành vi tàng trữ 0,127gam Heroine với mục đích để sử dụng; bị cáo là người có năng lực trách nhiệm hình sự, hành vi của bị cáo là cố ý, đã xâm phạm chế độ độc quyền quản lý các chất ma túy của Nhà nước. Do đó bị cáo đã phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; tội phạm và hình phạt quy định tại khoản 1 Điều 194 của Bộ luật Hình sự.
Quan điểm truy tố của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nam Định là có căn cứ.
Xét thấy, tại khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự năm 2015 về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định hình phạt nhẹ hơn quy định tại khoản 1 Điều 194 của Bộ luật Hình sự năm 1999. Theo quy định tại Điều 2 Nghị quyết 41/2017/QH17 ngày 20-6-2017 của Quốc hội, khoản 3 Điều 7 Bộ luật Hình sự năm 2015 thì các quy định có lợi cho bị cáo được thực hiện theo Bộ luật Hình sự năm 2015.
Xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội, nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo: Hành vi phạm tội của bị cáo là nghiêm trọng, gây mất trật tự an toàn xã hội, góp phần làm gia tăng tệ nạn ma túy, là nguyên nhân dẫn tới nhiều loại tội phạm khác. Bị cáo không có tình tiết tăng nặng. Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải đối với hành vi phạm tội của mình, cha đẻ bị cáo là thương binh; do đó bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm p khoản 1, khoản 2 Điều 46 của Bộ luật Hình sự. Hội đồng xét xử xét thấy cần phải áp dụng hình phạt tù đối với bị cáo là tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội, nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo.
Về hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo không có nghề nghiệp, thu nhập ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
Về xử lý vật chứng: Số ma túy đã thu giữ là vật Nhà nước cấm lưu hành, 01 xi lanh và 01 ống Novocain không có giá trị sử dụng nên tất cả tịch thu tiêu hủy.
Về án phí: Bị cáo Trần Thanh T phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 99 của Bộ luật Tố tụng hình sự và Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố: Bị cáo Trần Thanh T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Áp dụng khoản 1 Điều 194, điểm p khoản 1, khoản 2 Điều 46 của Bộ luật Hình sự năm 1999; Điều 2 Nghị quyết số 41/2017/QH14 ngày 20-6-2017 của Quốc hội, khoản 3 Điều 7, khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự năm 2015:
Xử phạt bị cáo Trần Thanh T 18 (mười tám) tháng tù. Thời hạn tù của bị cáo tính từ ngày 13-5-2017.
2. Xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 41 của Bộ luật Hình sự năm 1999, Điều 76 của Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy số ma túy có trong phong bì niêm phong số 382/GĐKTHS, 01 xi lanh và 01 ống Novocain.
(Vật chứng có đặc điểm như biên bản giao nhận vật chứng ngày 06-7-2017).
3. Án phí: Áp dụng Điều 99 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 Ủy ban thường vụ Quốc hội: Bị cáo Trần Thanh T phải nộp 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo Trần Thanh T được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Nam Định; - VKSND tp. Nam Định (02 bản); - Công an tp. Nam Định; - Chi cục THADS tp. Nam Định; - Bị cáo; - Lưu hồ sơ vụ án; VP. | THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Diện |