- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của bà Trần Thị M T.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự và Nghị; Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BÌNH THẠNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH Bản án số: 2563/2022/HNGĐ-ST Ngày: 29/12/2022 V/v Ly hôn |
NHÂN DAH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BÌNH THẠNH, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Xuân Thức
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Nguyễn Thị Nhơn
2. Bà Nguyễn Thị Bính Thân
Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên toà: Ông Trần Xuân Trường - Cán bộ Tòa án nhân dân quận Bình Thạnh, Thành phố Hồ Chí Minh.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Bình Thạnh tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Minh Huyền - Kiểm sát viên.
Ngày 29 tháng 12 năm 2022 tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Bình Thạnh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 0717/2022/TLST-HNGĐ ngày 20 tháng 4 năm 2022 về ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 567/2022/QĐXXST-HNGĐ ngày 01/11/2022; Quyết định Hoãn phiên tòa số: 384/2022/QĐST-HNGĐ ngày 01/12/2022 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Bà Trần Thị M T
sinh năm 1984
Nơi cư trú: 211 ấp Lương Thuận, xã Lương Quới, huyện X, tỉnh Y.
Bị đơn: Ông Trương Văn A
sinh năm 1979
Nơi cư trú: 113/4/2 Võ Duy Ninh, phường 22, quận X TP.Y.
+
(Nguyên đơn có đơn xin xét xử vắng mặt; bị đơn vắng mặt tại phiên tòa).
NỘI DUNG VỤ ÁN
Ngày 20 tháng 4 năm 2022 Toà án nhân dân quận Bình Thạnh thụ lý vụ án dân sự về trAh chấp ly hôn, do nguyên đơn bà Trần Thị M T khởi kiện đối với bị đơn ông Trương Văn A. Theo đơn khởi kiện, bản tự khai và biên bản phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải đoàn tụ nguyên đơn bà Trần Thị M T trình bày:
Bà Trần Thị M T và ông Trương Văn A tự nguyện chung sống với nhau vào năm 2020, đăng ký kết hôn tại Ủy bA nhân dân phường 22, quận Bình Thạnh, Thành phố Hồ Chí Minh, theo giấy chứng nhận kết hôn số 65; ngày 06/7/2020, đăng ký tại Ủy bA nhân dân phường 22, quận Bình Thạnh, Thành phố Hồ Chí Minh.
Nguyên nhân phát sinh mâu thuẫn: Quá trình chung sống hạnh phúc được một thời giA thì bắt đầu phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do tính tình không hòa hợp, bất đồng quA điểm trong cuộc sống, vợ chồng thường xuyên cải vã nhau, không có sự yêu thương và tôn trọng nhau, cuộc sống luôn nặng nề, mệt mỏi, không có tiếng nói chung, cuộc sống vợ chồng lạnh nhạt không hạnh phúc, ông Trương Văn A có hành vi đánh đập và đe dọa bà khiến bà luôn sống trong căng thẳng, mệt mỏi. Từ tháng 10 năm 2021 đến nay bà và ông Trương Văn A sống ly thân mỗi người mỗi nơi, không còn quA tâm, chăm sóc gì cho nhau. Nay tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được do đó bà yêu cầu Tòa án giải cho ly hôn với ông Trương Văn A để sớm ổn định cuộc sống.
Về con chung: Bà Trần Thị M T xác định quá trình chung sống không có con chung, nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về tài sản, nợ chung: Bà Trần Thị M T xác định không có, nên không yêu cầu Tòa án giải quyết. Ngoài ra bà không có ý kiến trình bày nào khác
Sự vắng mặt của bị đơn ông Trương Văn A: Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án nhân dân quận Bình Thạnh đã tiến hành xác minh nơi cư trú của ông Trương Văn A, đã tống đạt các thủ tục tố tụng như: Thông báo thụ lý vụ án, giấy triệu tập đương sự; Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải đoàn tụ; biên bản phiên họp kiểm tra việc giao nộp tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải đoàn tụ; Quyết định đưa vụ án ra xét xử và Quyết định hoãn phiên tòa cho bị đơn ông Trương Văn A theo đúng quy định của pháp luật. Tuy nhiên ông Trương Văn A vắng mặt không có lý do và không có ý kiến phản hồi gì đến Tòa án nhân dân quận Bình Thạnh, Thành phố Hồ Chí Minh.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Bình Thạnh tham gia phiên tòa sơ thẩm nhận xét:
- Việc thụ lý vụ án của Tòa là đúng thẩm quyền. Tòa án ra thông báo thụ lý; thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải, Quyết định đưa vụ án ra xét xử; Quyết định hoãn phiên tòa cũng như thủ tục tống đạt thông báo các văn bản tố tụng, thủ tục xét xử vắng mặt bị đơn là đúng quy định tại các Điều 170 đến 181; Điều 209, Điều 210, Điều 211 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
- Việc tuân thủ pháp luật của Hội đồng xét xử: Tại phiên Tòa hôm nay, Hội đồng xét xử đúng thành phần, thực hiện đúng quy định của pháp luật về phiên tòa sơ thẩm.
- Việc tuân thủ pháp luật của người tham gia tố tụng: Đối với nguyên đơn, từ khi thụ lý vụ án đến phiên tòa ngày hôm nay, thực hiện các quyền và nghĩa vụ theo đúng quy định tại Điều 70, 71 Bộ luật tố tụng dân sự. Đối với bị đơn, từ khi thụ lý đến phiên tòa ngày hôm nay, bị đơn đã không thực hiện đầy đủ các quyền, nghĩa vụ theo quy định tại Điều 70, 72 Bộ luật tố tụng dân sự, mặc dù Tòa án đã triệu tập và niêm yết hợp lệ.
- Về nội dung vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào các Điều 51, 56, 57, 59 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 chấp nhận yêu cầu ly hôn của nguyên đơn bà Trần Thị M T. Về con chung: Bà Trần Thị M T xác định không có con chung, nên không xem xét. Về tài sản, nợ chung: Bà Trần Thị M T xác định không có, nên không yêu cầu Tòa án giải quyết. Về án phí bà Trần Thị M T phải chịu án phí theo quy định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả trAh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
1. Về tố tụng:
Về quA hệ trAh chấp và thẩm quyền giải quyết của Tòa án: Bà Trần Thị M T xin ly hôn với ông Trương Văn A, hiện nay ông Trương Văn A đAg cư trú tại quận Bình Thạnh, do đó căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự, đây là trAh chấp về việc “ly hôn” thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân quận Bình Thạnh, Thành phố Hồ Chí Minh.
Căn cứ khoản 2 Điều 21 Bộ luật Tố tụng dân sự, vụ án thuộc trường hợp Viện kiểm sát tham gia phiên tòa.
Nguyên đơn bà Trần Thị M T có đơn xin xét xử vắng mặt tại phiên toà, nên việc Toà án xét xử vắng mặt bà là phù hợp với quy định khoản 1 Điều 228, Điều 238 Bộ luật tố tụng dân sự.
Bị đơn ông Trương Văn A đã được tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai mà vẫn vắng mặt tại phiên tòa, nên việc Toà án xét xử vắng mặt ông là phù hợp với quy định tại Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự.
2. Về nội dung:
Bà Trần Thị M T và ông Trương Văn A tự nguyện chung sống với nhau vào năm 2020, đăng ký kết hôn tại Ủy bA nhân dân phường 22, quận Bình Thạnh, Thành phố Hồ Chí Minh, theo giấy chứng nhận kết hôn số 65; ngày 06/7/2020, nên hôn nhân giữa bà Trần Thị M T và ông Trương Văn A là hợp pháp.
Sau khi Tòa án thụ lý và giải quyết vụ án, Tòa án nhân dân quận Bình Thạnh đã xác minh nơi cư trú của ông Trương Văn A, đã nhiều lần triệu tập ông lên Tòa án nhân dân quận Bình Thạnh nhận thông báo về việc thụ lý vụ án, tham gia các phiên hòa giải đoàn tụ, phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải đoàn tụ. Đã tống đạt hợp lệ thông báo kết quả phiên họp, tống đạt Quyết định đưa vụ án ra xét xử và Quyết định hoãn phiên tòa, nhưng khi mở phiên tòa ông Trương Văn A vẫn vắng mặt, không có ý kiến phản hồi, cũng như không cung cấp các tài liệu, chứng cứ chứng minh mong muốn tiếp tục duy trì mối quA hệ hôn nhân với bà Trần Thị M T. Do vậy ông Trương Văn A cũng tự tước bỏ quyền trình bày, cung cấp tài liệu, chứng cứ để bảo vệ những yêu cầu của mình tại Tòa án, thể hiện việc không còn quA tâm gì đến cuộc sống hôn nhân giữa ông với bà Trần Thị M T.
Xét yêu cầu của bà Trần Thị M T xin ly hôn với ông Trương Văn A, Hội đồng xét xử nhận thấy: Quá trình giải quyết ly hôn, Tòa án đã nhiều lần thông báo về phiên hòa giải đoàn tụ nhưng bị đơn ông Trương Văn A vắng mặt, nên không tiến hành hòa giải đoàn tụ được, Tòa án đã nhiều lần phân tích, động viên bà Trần Thị M T trở về đoàn tụ, cùng nhau xây dựng cuộc sống vợ chồng hạnh phúc với ông Trương Văn A. Tuy nhiên bà Trần Thị M T vẫn cương quyết giữ nguyên ý kiến xin ly hôn với ông Trương Văn A vì tình cảm vợ chồng không còn, hôn nhân giữa bà và ông Trương Văn A đã thực sự trầm trọng, không thể hàn gắn được. Do đó việc hòa giải đoàn tụ là không thành.
Xét thấy, quA hệ hôn nhân hạnh phúc vững bền cần phải được xây dựng trên cơ sở tình cảm tự nguyện, thiện chí của cả hai vợ chồng, cùng nhau xây dựng hạnh phúc gia đình. Tuy nhiên giữa bà Trần Thị M T và ông Trương Văn A có nhiều bất hòa trong cuộc sống, không có tiếng nói chung, cuộc sống vợ chồng lạnh nhạt không hạnh phúc, cả hai ông bà cũng đã cố gắng hòa giải những bất hòa trong cuộc sống nhưng không thành, dẫn đến việc ông bà sống ly thân kéo dài từ tháng 10 năm 2021 đến nay không còn quA tâm, lo lắng, chăm sóc gì cho nhau, điều này thể hiện mâu thuẫn giữa bà Trần Thị M T và ông Trương Văn A là trầm trọng không thể hàn gắn, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Từ những phân tích và chứng cứ nêu trên, Hội đồng xét xử xét thấy bà Trần Thị M T xin ly hôn với ông Trương Văn A là có cơ sở để chấp nhận căn cứ vào Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình.
Về con chung: Bà Trần Thị M T xác định quá trình chung sống không có con chung, nên Hội đồng xét xử không xét.
Về tài sản, nợ chung: Bà Trần Thị M T xác định không có, nên Hội đồng xét xử không xét.
Về án phí: Căn cứ Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 Nghị quyết quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, bà Trần Thị M T phải chịu toàn bộ án phí dân sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào các Điều 28, 35, 39, 147, 228, 266, 271, 273, 278, 280, 482 của Bộ luật tố tụng dân sự;
Áp dụng các Điều 51, 56, 57, 59 của Luật hôn nhân và gia đình;
Áp dụng Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 Nghị quyết của Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Áp dụng Luật Thi hành án dân sự,
Tuyên xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của bà Trần Thị M T.
1.1. Về quA hệ hôn nhân: Bà Trần Thị M T được ly hôn với ông Trương Văn A.
1.2. Về con chung: Bà Trần Thị M T xác định quá trình chung sống không có con chung, nên Hội đồng xét xử không xét.
1.3. Về tài sản, nợ chung: Bà Trần Thị M T xác định không có, nên Hội đồng xét xử không xét.
2. Về án phí dân sự sơ thẩm: Bà Trần Thị M T phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm là 300.000 đồng, nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng, theo biên lai thu số 0049475 ngày 14/4/2022 của Chi cục thi hành án dân sự quận Bình Thạnh, Thành phố Hồ Chí Minh, bà Trần Thị M T đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm.
Trường hợp quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
3. Các đương sự có quyền kháng cáo trong thời hạn mười lăm ngày kể từ ngày được tống đạt hợp lệ hoặc niêm yết bản án.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Nơi nhận: - Các đương sự; - VKSND quận Bình Thạnh (2); - Chi cục THADS quận Bình Thạnh; - TAD TPHCM; - UBND phường 22, quận Bình Thạnh, TP. Hồ Chí Minh; - Lưu VP, Hồ sơ. | THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Xuân Thức |