vanban.org

Bản án 256/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về hôn nhân: Không công nhận bà Thẩm Thị N và ông Phạm Văn M là vợ chồng.

Về nuôi con chung: Có 02 nguời con chung tên Phạm Minh D, sinh năm 1994 và Phạm Văn L, sinh năm 1999. Hiện các con đã trưởng thành và có khả năng lao động nên không yêu cầu xem xét. Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Thẩm Thị N - Phạm Văn M"
  • Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Không công nhận bà Thẩm Thị N và ông Phạm Văn M là vợ chồng.
  • Căn cứ chính? Điều 14 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN PHÚ TÂN
TỈNH CÀ MAU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 256/2023/HNGĐ-ST
Ngày: 28 – 12 – 2023
V/v “Tranh chấp xin ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ TÂN, TỈNH CÀ MAU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Phan Thị Như.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Đào Việt Khái.

Ông Nguyễn Minh Trọn.

- Thư ký phiên tòa: Ông Châu Sơn Ca là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Phú Tân, tỉnh Cà Mau.

Ngày 28 tháng 12 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Phú Tân xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 343/2023/TLST–HNGĐ ngày 23 tháng 10 năm 2023 về: “Tranh chấp xin ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 580/2023/QĐXXST–HNGĐ ngày 21 tháng 11 năm 2023, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Thẩm Thị N, sinh năm 1970 (vắng mặt).

Địa chỉ: Ấp C, xã T, huyện P, tỉnh Cà Mau.

- Bị đơn: Ông Phạm Văn M, sinh năm 1967 (vắng mặt).

Địa chỉ: Ấp C, xã T, huyện P, tỉnh Cà Mau.

NỘI DUNG CỦA VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện, bản tự khai đề ngày 16/10/2023 nguyên đơn bà Thẩm Thị N trình bày:

Về hôn nhân: Bà và ông Phạm Văn M tự nguyện chung sống với nhau vào năm 1994 nhưng không đến cơ quan có thẩm quyền đăng ký kết hôn theo quy định pháp luật. Thời gian đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc nhưng thời gian sau thì phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm, không tin tưởng nhau và đã ly thân từ tháng 01/2023 cho đến nay. Xét thấy, hôn nhân không hạnh phúc và mâu thuẫn ngày càng trầm trọng nên bà yêu cầu được ly hôn với ông Phạm Văn M.

Về nuôi con chung: Có 02 nguời con chung tên Phạm Minh D, sinh năm 1994 và Phạm Văn L, sinh năm 1999. Hiện các con đã trưởng thành và có khả năng lao động nên không yêu cầu xem xét.

Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Do công việc nên yêu cầu giải quyết vắng mặt trong quá trình Tòa án giải quyết vụ án.

Ông Phạm Văn M đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng thông báo cho biết việc bà N khởi kiện tại Tòa án nhưng ông M không có ý kiến gì đối với những yêu cầu của bà N và cũng không cung cấp tài liệu, chứng cứ gì cho Tòa án.

Tại phiên tòa: Bà N và ông M vắng mặt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Về tố tụng: Bà Thẩm Thị N khởi kiện xin ly hôn với ông Phạm Văn M là tranh chấp về hôn nhân và gia đình thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án. Bị đơn ông Phạm Văn M, cư trú tại ấp C, xã T, huyện P, tỉnh Cà Mau nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện P, tỉnh Cà Mau theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng Dân sự.

Bà Thẩm Thị N có đơn xin xét xử vắng mặt; ông Phạm Văn M đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai để tham gia phiên tòa nhưng vắng mặt không vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan nên Hội đồng xét xử căn cứ vào khoản 2 Điều 227, Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự xét xử vắng mặt bà N và ông M.

Về nội dung:

Về hôn nhân: Bà Thẩm Thị N và ông Phạm Văn M chung sống với nhau vào năm 1994 nhưng đến nay không thực hiện thủ tục đăng ký kết hôn tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền, nên hôn nhân giữa bà N và ông M vi phạm quy định về đăng ký kết hôn. Do đó, căn cứ Điều 9 và Điều 14 Luật Hôn nhân và gia đình thì bà N và ông M không được công nhận là hôn nhân hợp pháp. Bà N và ông M không được công nhận là vợ chồng.

Về nuôi con chung: Có 02 nguời con chung tên Phạm Minh D, sinh năm 1994 và Phạm Văn L, sinh năm 1999. Hiện các con đã trưởng thành và có khả năng lao động nên không yêu cầu xem xét.

Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về án phí: Án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm bà N phải chịu theo quy định tại điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án.

Các đương sự có quyền kháng cáo theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, khoản 2 Điều 227, Điều 228, Điều 271, Điều 273 Bộ luật Tố tụng Dân sự;

Áp dụng Điều 9, Điều 14 Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án, tuyên xử:

Về hôn nhân: Không công nhận bà Thẩm Thị N và ông Phạm Văn M là vợ chồng.

Về nuôi con chung: Có 02 nguời con chung tên Phạm Minh D, sinh năm 1994 và Phạm Văn L, sinh năm 1999. Hiện các con đã trưởng thành và có khả năng lao động nên không yêu cầu xem xét.

Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về án phí: Án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm bà Thẩm Thị N phải chịu 300.000 đồng. Bà Thẩm Thị N đã dự nộp tạm ứng án phí số tiền 300.000 đồng theo biên lai thu tiền số 0019238 ngày 16 tháng 10 năm 2023 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện P, tỉnh Cà Mau được chuyển thu.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.

Đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ.

Cỡ chữ