- Tranh chấp gì? án hình sự — "Bị cáo Huỳnh Văn T, phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một…"
- Tòa quyết gì? Tuyên ố: bị cáo Huỳnh Văn T, phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ P, TỈNH BÌNH THUẬN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 256/2022/HS-ST Ngày: 29-12-2022 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ P
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: bà Hồ Nữ Kiều Mỹ
Các Hội thẩm nhân dân: ông Nguyễn Bính
bà Trần Thị Thanh Nga
- Thư ký phiên tòa: bà Lê Thị Quỳnh Trang - Thẩm tra viên Tòa án nhân dân thành phố P
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố P tham gia phiên tòa: bà Lê Thị Hải Yến - Kiểm sát viên
Trong ngày 29 tháng 12 năm 2022 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố P xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 213/2022/TLST-HS ngày 17 tháng 11 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số 311/2022/QĐXXST-HS ngày 15 tháng 12 năm 2022 đối với ị cáo:
HUỲNH VĂN T, sinh năm 1979 tại tỉnh Bình Thuận.
HKTT: khu phố 3, phường P, thành phố P, tỉnh Bình Thuận; chỗ ở hiện nay: thôn X, xã P, thành phố P, tỉnh Bình Thuận; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ văn hóa (học vấn): không iết chữ; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Huỳnh Văn C (sinh năm 1952) và bà Phạm Thị A1 (sinh năm 1954); vợ: Nguyễn Thị Ngọc A2, sinh năm 1979; có 01 người con, sinh năm 2005; tiền án, tiền sự: không.
Nhân thân:
- Ngày 21/4/2000, ị Tòa án nhân dân tỉnh Bình Thuận xét xử phúc thẩm xử phạt 24 tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích”. Ngày 01/9/2000 chấp hành xong hình phạt tù, đã được xóa án tích.
- Ngày 12/3/2018, ị Tòa án nhân dân tỉnh Bình Thuận xét xử phúc thẩm xử phạt 02 năm tù về tội “Cố ý gây thương tích”. Ngày 16/9/2019, chấp hành xong hình phạt tù, đã được xóa án tích.
Bị cáo đang tại ngoại tại địa phương và ị áp dụng iện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú”, có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn iến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 16 giờ ngày 24/01/2022, Huỳnh Văn T sử dụng điện thoại di động hiệu Nokia có sim số 0944127685 liên lạc với đối tượng tên Dũng (không rõ nhân thân) qua số điện thoại mà T xin từ các con nghiện (T không lưu số) hỏi mua 500.000 đồng tiền ma túy đá để sử dụng thì Dũng đồng ý án và hẹn giao ma túy tại khu vực trước Trung tâm giống cây trồng tỉnh Bình Thuận. T ắt xe ôm đến điểm hẹn, đưa Dũng 500.000 đồng, Dũng đưa T 01 gói ma túy được đựng trong gói nylon không màu, hàn kín 2 đầu. T cầm gói ma túy vừa mua được của Dũng về lại nhà tại thôn X, xã P, lấy xe môtô iển số 86C1-180.95 rồi cầm gói ma túy trong tay trái và điều khiển xe đi đến con đường đất ên cạnh Trung tâm dạy nghề lái xe Thanh Long Đỏ thuộc thôn X, xã P, thành phố P để sử dụng. Lúc này, Tổ công tác thuộc Phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy, Công an tỉnh Bình Thuận phối hợp với Công an xã P tuần tra đến, phát hiện T có iểu hiện nghi vấn nên kiểm tra hành chính, phát hiện trong àn tay trái của T có 01 gói nylon không màu, hàn kín hai đầu, kích thước khoảng (1,5x 4,5) cm, ên trong có chứa chất tinh thể màu trắng, nghi là ma túy nên Tổ công tác tạm giữ những đồ vật, tài liệu có liên quan và đưa T về trụ sở Công an xã P làm việc. Tại cơ quan Công an, T khai nhận hành vi phạm tội của mình như nêu trên.
Vật chứng của vụ án: cơ quan Công an đã thu giữ của T:
- 01 gói nylon không màu, hàn kín hai đầu, kích thước khoảng (1,5×4,5) cm,
bên trong có chứa tinh thể màu trắng. Được niêm phong và ký hiệu M khi giám định.
- 01 điện thoại di động, màu trắng đen, mặt sau và trước điện thoại có chữ
Nokia, chứa sim số 0944127685, số sê-ri 1: 355810096068823, số sê-ri 2: 355826091068824; tiền Việt Nam: 2.500.000 đồng trong túi quần ên phải phía trước của T.
- 01 xe máy hiệu Novo, màu đen ạc, iển số 86C1-18095, số khung P1108Y003648, số máy: 5P11-003648.
Tại Bản kết luận giám định số 163/KL-PC09 ngày 22/02/2022, phòng Kỹ thuật Hình sự, Công an tỉnh Bình Thuận kết luận: Mẫu M gửi giám định có khối lượng 0,4713 gam là Methamphetamine.
Xử lý vật chứng:
- Gói nylon đã cắt lấy mẫu và 0,4057 gam mẫu M còn lại sau giám định,
được niêm phong trong phong ì số 163 có chữ ký của giám định viên Nguyễn Hồng Thích và hình dấu tròn đỏ của Phòng kỹ thuật hình sự, Công an tỉnh Bình Thuận; 01 (một) điện thoại di động, màu trắng đen, mặt sau và trước điện thoại có chữ Nokia, ên trong chứa sim số 0944127685, công cụ mà T dùng để liên lạc mua ma túy, Viện kiểm sát nhân dân thành phố P đã ra Quyết định chuyển vật chứng đến Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Phan Thiết ảo quản, chờ xử lý.
- Đối với tiền Việt Nam 2.500.000 đồng và 01 xe môtô hiệu Novo, iển số
86C1-18095 là tài sản của Huỳnh Văn T, không liên quan đến vụ án nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố P trả lại cho T là đúng quy định pháp luật.
Tại ản Cáo trạng số 211/CT-VKSPT-HS ngày 16/11/2022 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố P quyết định, truy tố ị cáo Huỳnh Văn T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên toà hôm nay đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố P phát
iểu quan điểm xử lý về vụ án như sau:
Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên ố Huỳnh Văn T, phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Xử phạt Huỳnh Văn T từ 15 (mười lăm) tháng tù đến 21 (hai mươi mốt) tháng tù.
Về xử lý vật chứng: đề nghị áp dụng khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự để xử lý vật chứng theo quy định.
Đối với đối tượng tên Dũng đã án ma túy cho T, do không xác định được nhân thân nên không có căn cứ làm rõ để xử lý.
Tại phiên tòa, ị cáo Huỳnh Văn T xác định Cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố là đúng và không tranh luận gì, thống nhất với quan điểm luận tội của Viện kiểm sát và lời nói sau cùng, ị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra Công an thành phố P, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố P và Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, theo hồ sơ đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự và thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa ị cáo Huỳnh Văn T không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Tại phiên tòa sơ thẩm, ị cáo T thừa nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung cáo trạng đã nêu. Lời nhận tội của ị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của ị cáo tại Cơ quan điều tra và phù hợp các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án và đã được xem xét tại phiên tòa nên có đủ cơ sở kết luận:
Vào khoảng 16 giờ 45 phút ngày 24/01/2022, tại hẻm đường đất ên cạnh Trung tâm dạy nghề lái xe Thanh Long Đỏ thuộc thôn X, xã P, thành phố P, Huỳnh Văn T có hành vi tàng trữ trái phép 0,4713 gam Methamphetamine để sử dụng thì ị Tổ công tác thuộc Phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy, Công an tỉnh Bình Thuận phối hợp với Công an xã P ắt quả tang.
Bị cáo T là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, ị cáo nhận thức được tác hại nguy hiểm của ma túy đối với người sử dụng và nhận thức được việc tàng trữ, sử dụng chất ma túy là trái pháp luật nhưng do thiếu ý thức chấp hành pháp luật nên ị cáo đã mua ma túy để phục vụ nhu cầu ản thân sử dụng. Bị cáo thực hiện hành vi với lỗi cố ý, đủ dấu hiệu cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự. Do đó, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố P đã truy tố đối với ị cáo T là có căn cứ, đúng người, đúng tội.
[3 Về tính chất, mức độ hành vi phạm tội của ị cáo: Hành vi của ị cáo là nguy hiểm cho xã hội, không những đã xâm phạm đến chính sách quản lý độc quyền của Nhà nước về chất ma túy, làm phức tạp tình hình an ninh trật tự ở địa phương, là nguyên nhân gián tiếp dẫn đến việc thực hiện nhiều loại tội phạm khác. Hội đồng xét xử thấy cần thiết phải áp dụng hình phạt nghiêm khắc đối với ị cáo để giáo dục ị cáo ý thức tuân thủ pháp luật, ngăn ngừa phạm tội mới; đồng thời giáo dục những người khác iết tôn trọng pháp luật, tích cực tham gia phòng, chống tội phạm.
[4 Về tình tiết tăng nặng và tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng nhưng có nhân thân xấu, đã ị Tòa án xử phạt 02 lần về tội “Cố ý gây thương tích”; về tình tiết giảm nhẹ: quá trình điều tra và tại phiên tòa ị cáo đã thành khẩn khai áo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự nên cần áp dụng khi lượng hình đối với ị cáo.
[5 Về xử lý vật chứng:
- Đối với gói nylon đã cắt lấy mẫu và 0,4057 gam mẫu M còn lại sau giám định được niêm phong trong phong ì số 163, có chữ ký của giám định viên Nguyễn Hồng Thích và hình dấu tròn đỏ của Phòng kỹ thuật hình sự, Công an tỉnh Bình Thuận là vật thuộc loại Nhà nước cấm tàng trữ, lưu hành và không có giá trị nên tịch thu, tiêu hủy.
- Đối với 01 (một) điện thoại di động, màu trắng đen, mặt sau và trước điện
thoại có chữ Nokia, ên trong chứa sim số 0944127685, công cụ mà T dùng để liên lạc mua ma túy nên tịch thu, nộp ngân sách Nhà nước.
- Đối với tiền Việt Nam 2.500.000 đồng và 01 (một) xe môtô hiệu Novo, iển số 86C1-18095 là tài sản của Huỳnh Văn T, không liên quan đến vụ án nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố P trả lại cho T là đúng quy định pháp luật.
Các vấn đề khác: Đối với đối tượng có tên thường gọi là Dũng ị cáo đã mua ma túy, Cơ quan điều tra không xác minh làm rõ được nhân thân, địa chỉ nên Hội đồng xét xử không đặt vấn đề xem xét.
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ vào: điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Tuyên ố: bị cáo Huỳnh Văn T, phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Xử phạt: ị cáo Huỳnh Văn T 15 (mười lăm) tháng tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày ị ắt thi hành án.
2. Xử lý vật chứng: căn cứ vào khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
- Tịch thu, tiêu hủy 01 (một) gói nylon đã cắt lấy mẫu và 0,4057 gam mẫu M còn lại sau giám định, được niêm phong trong phong ì số 163, có chữ ký của giám định viên Nguyễn Hồng Thích và hình dấu tròn đỏ của Phòng kỹ thuật hình sự, Công an tỉnh Bình Thuận;
- Tịch thu, nộp ngân sách Nhà nước 01 (một) điện thoại di động, màu trắng đen, mặt sau và trước điện thoại có chữ Nokia, ên trong chứa sim số 0944127685.
(Theo Biên ản về việc giao nhận vật chứng, tài sản số 39 ngày 17/11/2022).
3. Về án phí: căn cứ vào khoản 2 Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy an Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Buộc ị cáo Huỳnh Văn T phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
4. Quyền kháng cáo: căn cứ Điều 331 và 333 Bộ luật Tố tụng hình sự, ị cáo có quyền kháng cáo ản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (29/12/2022).
| Nơi nhận: - VKSND TP Phan Thiết; - VKSND tỉnh Bình Thuận; - TAND tỉnh Bình Thuận; - Công an TP Phan Thiết; - Bị cáo; - UBND địa phương nơi /c thường trú; - Thi hành án thành phố P; - Lưu: hồ sơ. | TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Hồ Nữ Kiều Mỹ |