vanban.org

Bản án 256/2021/HSST — Hình sự

TAND huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai Tuyên án 22/12/2021 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Tống Thanh L phạm tội: “Trộm cắp tài sản”.

Xử phạt bị cáo Tống Thanh L 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 22/12/2020 Tuyên bố bị cáo Võ Anh Ph phạm tội: “Trộm cắp tài sản”. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Tống Thanh L và đồng phạm phạm tội "Trộm cắp tài sản" - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Tống Thanh L phạm tội: “Trộm cắp tài sản”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 173 Bộ luật Hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN TRẢNG BOM
TỈNH ĐỒNG NAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 256/2021/HSST
Ngày: 22-12-2021

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẢNG BOM, TỈNH ĐỒNG NAI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Ông Nguyễn Tấn Phát

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Đặng Quang Hoạch

Ông Tạ Văn Đài

- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Thảo – Thư ký Toà án nhân dân huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai tham gia phiên toà: Ông Phạm Hữu Tình - Kiểm sát viên.

Ngày 22 tháng 12 năm 2021, tại Hội trường Tòa án nhân dân huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 116/2021/HSST ngày 19 tháng 5 năm 2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 129/2021/QĐXXST-HS ngày 05 tháng 7 năm 2021, Thông báo mở lại phiên tòa số 01/TB-TA ngày 06 tháng 12 năm 2021 đối với các bị cáo:

1. Tống Thanh L, sinh ngày 21 tháng 3 năm 1992 tại tỉnh Đồng Nai. Nơi cư trú: khu phố A, thị trấn B, huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai. Nghề nghiệp: Không; Trình độ học vấn: 6/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Tống Tr, sinh năm 1964 và bà Nguyễn Thị L2, sinh năm 1966. Gia đình có 02 chị em; bị cáo là con thứ hai, chưa có vợ, con.

Tiền án:

Ngày 24/7/2012 bị Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Cửu, tỉnh Đồng Nai xử phạt 07 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Bị cáo đã chấp hành xong hình phạt tù ngày 19/8/2012, chưa đóng 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Ngày 25/12/2012 bị Tòa án nhân dân huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai xử phạt 06 (sáu) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Bị cáo chấp hành xong hình phạt tù ngày 19/4/2013, chưa đóng án phí hình sự sơ thẩm.

Ngày 26/9/2014 bị Tòa án nhân dân huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai xử phạt 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Giao cấu với trẻ em”. Bị cáo đã chấp hành xong hình phạt tù ngày 19/01/2016, chưa đóng 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm và 3.500.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.

Ngày 29/11/2016 bị Tòa án nhân dân huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai xử phạt 03 (ba) năm 06 (Sáu) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Bị cáo đã chấp hành xong hình phạt tù ngày 03/3/2020, chưa đóng án phí hình sư sơ thẩm, dân sự sơ thẩm.

Nhân thân:

Ngày 30/10/2013 bị Tòa án nhân dân huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai xử phạt 09 (chín) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”.

Bị cáo bị giam, giữ từ ngày 22/12/2020 (có mặt)

2. Võ Anh Ph, sinh ngày 07 tháng 10 năm 2002 tại tỉnh Đồng Nai. Nơi đăng ký HKTT: ấp T, xã X, huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai. Nghề nghiệp: Không; Trình độ học vấn: 2/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Không rõ họ và tên cha; Họ và tên mẹ: Võ Thị Hằng Ng, sinh năm 1980. Gia đình có 03 anh em; bị cáo là con duy nhất trong gia đình; Bị cáo chưa có vợ, con. Tiền án, tiền sự: Không. Nhân thân: Ngày 18/10/2019 bị Tòa án nhân dân huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai xử phạt 09 (chín) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”.

Bị cáo bị giam, giữ từ ngày 22/12/2020 (có mặt)

Bị hại:

Anh Trần Trọng S, sinh năm 1984. Địa chỉ: ấp 1, xã Sông Trầu, huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai (vắng mặt)

Chị Nguyễn Thị Kim L1, sinh năm 1969. Địa chỉ: ấp 7, xã Sông Trầu, huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai (vắng mặt)

Chị Nguyễn Thị H, sinh năm 1987. Địa chỉ: ấp 4, xã Sông Trầu, huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai (vắng mặt)

Anh Trần Văn H1, sinh năm 1978. Địa chỉ: ấp Trung Tâm, xã Thanh Bình, huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai (vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Võ Anh Ph và Tống Thanh L có quan hệ quen biết và không có việc làm ổn định. Trong khoảng thời gian từ tháng 7/2020 đến tháng 12/2020 tại địa bàn huyện Trảng Bom Tống Thanh L cùng với Võ Anh Ph thực hiện 02 vụ trộm cắp tài sản, cụ thể như sau:

- Vụ thứ 1: Vào ngày 23/10/2020 L nhắn tin qua mạng Facebook rủ Ph đi trộm cắp tài sản, thì Ph đồng ý. L điều khiển xe mô tô biển số 60B8-85137 chở Ph đến tiệm tóc “Xinh” thuộc ấp 7, xã Sông Trầu, huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai do chị Nguyễn Phương Uyên làm chủ, thì thấy 01 xe mô tô Honda Wave RSX biển số 93N2- 6580 của bà Nguyễn Thị Kim L1 đang dựng trong sân, không có người trông coi. Lúc này Lđứng ngoài canh chừng còn Ph đi vào lén lút trộm cắp xe mô tô sau đó đưa đi bán cho một người đàn ông tên Trực (không rõ nhân thân, lai lịch) tại Thành phố Hồ Chí Minh được 700.000 đồng, số tiền này L và Ph chia nhau tiêu xài cá nhân hết.

- Vụ thứ 2: Vào ngày 29/11/2020 L nhắn tin qua mạng xã hội Facebook rủ Ph đi trộm cắp tài sản thì Ph đồng ý. Ltiếp tục điều khiển xe mô tô biển số 60B8-85137 chở Ph đi tìm kiếm tài sản để trộm cắp. Khi đi đến khu vực ấp Trung Tâm, xã Thanh Bình, huyện Trảng Bom thì nhìn thấy 01 xe mô tô biển số 60S7-1258 của anh Trần Văn H1 đang dựng phía trước nhà của anh Ngô Phan Hoàng Ng. L dừng xe, lén lút đi vào dắt xe mô tô biển số 60S7-1258 ra ngoài sau đó đưa cho Ph điều khiển về nhà của Luận. Sau khi về nhà, L chia cho Ph 1.000.000 đồng còn Lđưa xe mô tô 60S7-1258 đi tháo biển số và thay phụ tùng, sau đó cho người bạn tên Nguyễn Trung K trú tại khu phố 4, thị trấn Trảng Bom, huyện Trảng Bom mượn để làm phương tiện đi lại.

Cũng trong thời gian trên, Ph còn một mình thực hiện 02 vụ trộm cắp tài sản, cụ thể:

- Vụ thứ 1: Vào ngày 12/12/2020 Ph đi bộ trên đường L ấp thuộc ấp 4, xã Sông Trầu, huyện Trảng Bom thì thấy có 01 xe môtô nhãn hiệu FIGO biển số 36M5-4999 của chị Nguyễn Thị H, đang dựng trước tiệm tạp hóa, không có người trông coi. Ph lén lút trộm cắp chiếc xe mô tô trên, sau đó đưa đến ấp Tân Phát, xã Đồi 61 bán cho một người đàn ông tên Tuấn Anh (không rõ nhân thân, lai lịch) được 800.000 đồng, số tiền bán xe Ph tiêu xài cá nhân hết.

- Vụ thứ 2: Vào khoảng 12 giờ 00 phút ngày 20/12/2020, trong lúc đi ngang qua nhà anh Trần Trọng S thuộc ấp 1, xã Sông Trầu, huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai thi Võ Anh Ph nhìn thấy 01 xe mô tô Dream không biển số đang dựng trong sân nên nảy sinh ý định trộm cắp. Ph lén lút đi vào dắt xe mô tô ra ngoài sau đó đem bán với giá 800.000 đồng. Sau khi về nhà, anh S kiểm tra camera thì phát hiện và nghi ngờ Ph là người trộm cắp. Đến khoảng 01 giờ 00 phút ngày 21/12/2020, anh Scùng người dân thấy Ph nên đã giữ lại, sau đó báo Công an xã Sông Trầu, quá trình làm việc Ph đã khai nhận hành vi của mình.

Ngoài ra trong quá trình điều tra Ph và L còn khai nhận:

- Vào khoảng tháng 7/2020, Ph đi bộ đến sân vận động huyện Trảng Bom tại khu phố 5, thị trấn Trảng Bom, huyện Trảng Bom thì thấy 01 xe có xe đạp điện hiệu CABMAX màu đen, đang dựng ở trong sân vận động và không có người trong coi. Ph lén lút đi vào trộm cắp sau đó đưa đến ấp Tân Phát, xã Đồi 61 bán lại cho người đàn ông tên Nghĩa (không rõ nhân thân, lai lịch) với giá 3.000.000 đồng, số tiền trên Ph đã tiêu xài cá nhân hết.

- Vào khoảng cuối tháng 10/2020 L tiếp tục nhắn tin qua mạng xã hội Facebook rủ Ph đi trộm cắp tài sản thì Ph đồng ý. Lđiều khiển xe mô tô biển số 60B8-85137 chở Ph đến sân vận động thuộc khu phố 5, thị trấn Trảng Bom, huyện Trảng Bom thì thấy 01 xe đạp điện hiệu DRAGA màu đỏ và không có người trông coi, L đứng canh chừng còn Ph đi bộ vào lén lút dắt xe đạp điện ra ngoài, sau đó đưa về phòng trọ của Ph tại xã Đồi 61, huyện Trảng Bom cất giấu. Tại đây L chia cho Ph 1.000.000 đồng rồi đưa xe đạp điện về nhà Luận.

Đối với xe đạp điện hiệu CABMAX và xe đạp điện hiệu DRAGA Cơ quan điều tra đã thông báo truy tìm bị hại nhưng chưa xác định được nên Viện kiểm sát nhân dân huyện Trảng Bom yêu cầu Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Trảng bom tách ra tiếp tục điều tra xử lý sau.

Vật chứng thu giữ:

- 01 xe mô tô Honda Vision biển số 60B8-85137 và 01 Chứng nhận đăng ký.

- 01 điện thoại Samsung Galaxy A71, màu đen, số sim 0931.957.069.

- 01 xe mô tô không biển, số số khung 09055Y-506879, số máy HC09E-5006737.

- 01 xe mô tô không biển số, số máy 1P50FMG-3Y0334269, số khung HXDXCGL07-Y0020335.

- 01 xe đạp điện nhãn hiệu DRAGA màu đỏ, đen.

- 01 thẻ nhớ nhãn hiệu ADATA dung lượng 1GB, màu đen.

Các tài sản không thu giữ được gồm: 01 xe mô tô nhãn hiệu Figo màu đỏ biển số 36M5-4999, số khung: 1UM5L000797, số máy: 150FMH040797; 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave RSX màu đen đỏ, biển số 93N2-6580, số khung: RLHJC4328AY056559, số máy: JC43E-5507433 các bị cáo khai nhận đã bán cho những người không rõ nhân thân lai lịch nên không có cơ sở để thu hồi.

Theo kết luận định giá tài sản ngày 16 tháng 02 năm 2021 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thuộc Ủy ban nhân dân huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai đã kết luận:

- 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave màu đen biển số 60S7-1258, số khung: 09055Y-506879, số máy: HC09E-5006737, đã qua sử dụng trị giá 8.000.000 đồng.

- 01 xe mô tô không biển số, có số máy 1P50FMG-3Y0334269, số khung: HXDXCGL07-Y0020335, đã qua sử dụng trị giá 1.000.000 đồng.

- 01 xe mô tô nhãn hiệu Figo màu đỏ biển số 36M5-4999, số khung: 1UM5L000797, số máy: 150FMH040797, đã qua sử dụng trị giá 2.500.000 đồng.

- 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave RSX màu đen đỏ, biển số 93N2-6580, số khung: RLHJC4328AY056559, số máy: JC43E-5507433, đã qua sử dụng trị giá 4.000.000 đồng.

Tại bản cáo trạng số 133/CT-VKS-TB ngày 19/5/2021, Viện kiểm sát nhân dân huyện Trảng Bom truy tố ra trước Tòa án nhân dân huyện Trảng Bom để xét xử đối với bị cáo Tống Thanh L theo quy định tại điểm g, khoản 2 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017), đối với bị cáo Võ Anh Ph theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Trảng Bom giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị:

- Tuyên bố các bị cáo Tống Thanh L, Võ Anh Ph phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Áp dụng điểm g, khoản 2, Điều 173, điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) xử phạt bị cáo Tống Thanh L từ 03 (ba) năm đến 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù.

Áp dụng khoản 1, Điều 173; điểm s, khoản 1, Điều 51; điểm g, khoản 1, Điều 52 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) xử phạt bị cáo Võ Anh Ph từ 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng đến 03 (ba) năm tù.

Về trách nhiệm dân sự: Bà Nguyễn Thị H yêu cầu bị cáo Võ Anh Ph bồi thường số tiền 2.500.000 đồng. Đề nghị Hội đồng xét xử giải quyết theo quy định.

Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

Tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến bào chữa, tranh luận gì đối với lời luận tội của đại diện Viện Kiểm sát.

Trong lời nói sau cùng bị cáo đã nhận thức rõ về hành vi phạm tội của mình và xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt mức thấp nhất cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về thủ tụng tố tụng: Trong suốt quá trình điều tra, truy tố và xét xử cũng như tại phiên tòa, các hành vi, quyết định tố tụng của những người tiến hành tố tụng phù hợp với quy định của pháp luật tố tụng hình sự, các văn bản tố tụng được tống đạt hợp lệ và đầy đủ, quyền được bào chữa và tự bào chữa của bị cáo được bảo đảm. Bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có khiếu nại gì về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng. Do đó, hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đều phù hợp.

Căn cứ lời khai của các bị cáo đã được thẩm tra tại phiên tòa, cùng các tài liệu, chứng cứ thu thập được đã có đủ căn cứ kết luận:

Ngày 23/10/2020 bị cáo Tống Thanh L và bị cáo Võ Anh Ph đã có hành vi lén lút chiếm đoạt xe mô tô Honda Wave RSX biển số 93N2-6580 của chị Nguyễn Thị Kim L1 tại xã Sông Trầu, huyện Trảng Bom, trị giá tài sản chiếm đoạt là 4.000.000 đồng; Ngày 29/11/2020 bị cáo Tống Thanh L và bị cáo Võ Anh Ph đã có hành vi lén lút chiếm đoạt xe mô tô biển số 60S7-1258 của anh Trần Văn H1 tại xã Thanh Bình, huyện Trảng Bom, trị giá tài sản chiếm đoạt là 8.000.000 đồng.

Ngoài ra ngày 12/12/2020 bị cáo Võ Anh Ph đã thực hiện hành vi lén lút chiếm đoạt xe mô tô nhãn hiệu Figo biển số 36M5-4999 của chị Nguyễn Thị H tại xã Sông Trầu, huyện Trảng Bom, trị giá tài sản là 2.500.000 đồng; Ngày 20/12/2020 bị cáo Ph tiếp tục có hành vi lén lút chiếm đoạt xe mô tô hiệu Dream không biển số của anh Trần Trọng S, trị giá tài sản chiếm đoạt là 1.000.000 đồng.

Bị cáo Tống Thanh L có 04 (bốn) tiền án, chưa được xóa án tích nay lại tiếp tục có hành vi lén lút chiếm đoạt tài sản với tổng trị giá tài sản chiếm đoạt là 12.000.000 đồng. Do đó hành vi của bị cáo Lđã phạm vào tội “Trộm cắp tài sản” với tình tiết định khung hình phạt “tái phạm nguy hiểm” quy định tại điểm g, khoản 2 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Bị cáo Võ Anh Ph cùng với bị cáo Tống Thanh L lén lút chiếm đoạt tài sản với tổng giá trị 12.000.000 đồng. Ngoài ra bị cáo Ph còn lén lút chiếm đoạt xe mô tô nhãn hiệu Figo biển số 36M5-4999 và xe mô tô hiệu Dream không biển số với tổng trị giá tài sản là 3.500.000 đồng. Hành vi của bị cáo Ph đã phạm vào tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Hành vi phạm tội của các bị cáo đã xâm phạm trực tiếp đến tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, gây mất an ninh trật tự trị an tại địa phương. Vì vậy, cần có mức hình phạt đủ nghiêm cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gia để răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung.

Xét tình chất, vai trò của từng bị cáo, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự Hội đồng xét xử thấy rằng: Hành vi của bị cáo L và bị cáo Ph là đồng phạm nhưng mang tính giản đơn. Cả hai bị cáo có nhân thân xấu, phạm tội hai lần trở lên nên Hội đồng xét xử áp dụng tình tiết tăng nặng quy định tại điểm g, khoản 1, Điều 52 Bộ luật hình sự đối với các bị cáo. Bị cáo L tác động gia đình bồi thường, khắc phục hậu quả cho chị Nguyễn Thị Kim L1 số tiền 4.000.000 đồng và được chị L1 đề nghị giảm nhẹ hình phạt nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b, khoản 1, khoản 2, Điều 51 Bộ luật hình sự. Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s, khoản 1, Điều 51 Bộ luật hình sự. Các tình tiết này sẽ được Hội đồng xét xử xem xét, cân nhắc khi lượng hình phạt đối với từng bị cáo.

Về xử lý vật chứng:

Đối với 01 xe mô tô Honda Vision biển số 60B8-85137 và 01 Chứng nhận đăng ký, quá trình điều tra xác định xe thuộc quyền sở hữu của chị Tống Thị Thanh Th sinh năm 1986, trú tại ấp Trà Cổ, xã Bình Minh, huyện Trảng Bom. Chị Thảo không biết L sử dụng xe mô tô để hiện hành vi phạm tội nên Cơ quan cảnh sát điều tra đã trả lại cho chị Th là phù hợp.

Đối với 01 điện thoại Samsung Galaxy A71, màu đen, số sim 0931.957.069 thuộc quyền sở hữu của bà Nguyễn Thị L2 (mẹ ruột của Luận), bà Lan không biết Lsử dụng điện thoại để thực hiện hành vi phạm tội nên cơ quan cảnh sát điều tra ra quyết định trả lại cho bà Lan là phù hợp.

Về trách nhiệm dân sự: Bị hại bà Nguyễn Thị Hát yêu cầu bị cáo Ph bồi thường số tiền 2.500.000 đồng (hai triệu năm trăm nghìn đồng). Tại phiên tòa bị cáo Ph đồng ý tự nguyện bồi thường cho bà Hát nên Hội đồng xét xử buộc bị cáo Võ Anh Ph có trách nhiệm bồi thường thiệt hại về tài sản cho bà Nguyễn Thị Hát số tiền 2.500.000 đồng (hai triệu năm trăm nghìn đồng).

Về các vấn đề khác L quan đến vụ án:

Đối với xe mô tô không biển số, số khung: 09055Y-506879, số máy: HC09E-5006737; xe mô tô không biển số, số khung: HXDXCGL07-Y0020335, số máy 1P50FMG-3Y0334269 quá trình điều tra chưa xác minh được chủ sở hữu nên Cơ quan cảnh sát điều tra tách ra, tiếp tục điều tra, xác minh khi có căn cứ sẽ xử lý theo quy định.

Bị cáo Võ Anh Ph có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Trảng Bom đã ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với hành vi này là phù hợp.

Đối với hành vi lén lút chiếm đoạt xe đạp điện hiệu Cabmax và xe đạp điện hiệu Draga mà bị cáo Tống Thanh L và bị cáo Võ Anh Ph khai nhận, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai đã thông báo truy tìm bị hại nhưng chưa có kết quả. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai tiếp tục xác minh làm rõ, khi có đầy đủ căn cứ sẽ xử lý sau.

Đối với Nguyễn Trung K mượn xe mô tô hiệu Dream không biển số của bị cáo Tống Thanh L, K không biết tài sản này do Lphạm tội mà có nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai không xử lý.

Về án phí: Bị cáo Tống Thanh L, Võ Thanh Ph mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm. Bị cáo Võ Anh Ph phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.

Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Trảng Bom về tội danh, mức hình phạt và án phí phù hợp một phần với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ điểm g, khoản 2, Điều 173; điểm b, s, khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52, Điều 58 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Tuyên bố bị cáo Tống Thanh L phạm tội: “Trộm cắp tài sản”.

Xử phạt bị cáo Tống Thanh L 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 22/12/2020

2. Căn cứ khoản 1 Điều 173, điểm s, khoản 1 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52, Điều 58 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Tuyên bố bị cáo Võ Anh Ph phạm tội: “Trộm cắp tài sản”.

Xử phạt bị cáo Võ Anh Ph 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 22/12/2020

3. Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ Điều 589 Bộ luật dân sự.

Buộc bị cáo Võ Anh Ph có trách nhiệm bồi thường thiệt hại do tài sản bị xâm phạm cho bà Nguyễn Thị H số tiền 2.500.000 đồng (hai triệu năm trăm nghìn đồng)

Kể từ ngày người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án, nếu người phải thi hành án chậm thi hành án đối với các khoản tiền nêu trên thì phải trả lãi đối với số tiền chậm trả theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015.

4. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a,c khoản 1 Điều 23, Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý, sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Buộc bị cáo Tống Thanh L, Võ Anh Ph mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm. Buộc bị cáo Võ Anh Ph phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm.

5. Bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ.

6. Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự..

Cỡ chữ