- Tranh chấp gì? án hình sự — "Điều 154. Mua bán, chiếm đoạt mô hoặc bộ phận cơ thể người - phạm tội mua bán, chiếm đoạt mô hoặc bộ phận cơ thể người (điều 154 Luật sửa đổ…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Lê Xuân L phạm tội: “Mua bán b phận cơ thể người”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật hình sự xử phạt; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc | |
| ` TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HÀ ĐÔNG THÀNH PHỐ HÀ NỘI Bản án số: 256/2020/HS-ST Ngày: 18/12/2020 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HÀ ĐÔNG, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Th m phán - Ch t a phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu Hòa
Các H i th m nhân dân: Ông Nguyễn Cao Biền
Ông Bạch Ngọc Khanh
- Thư ký phiên tòa: Bà Hoàng Thị Phương Thảo - Thư ký Tòa án nhân dân quận Hà Đông, thành phố Hà Nội.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Hà Đông, thành phố Hà Nội tham gia phiên tòa: Bà Hoàng Thị Thu Giang - Kiểm sát viên.
Mở phiên tòa công khai ngày 18 tháng 12 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Hà Đông, Hà Nội xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 269/2020/TLST-HS ngày 24/11/2020 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 267/2020/QĐXXST-HS ngày 02 tháng 12 năm 2020 đối với đối với bị cáo:
Lê Xuân L, sinh năm 1982. Hộ khẩu thường trú: Xóm Trung Thành, xã Phong Thịnh, huyện Thanh Chương, tỉnh Nghệ An; Giới tính: Nam; Dân tộc: Kinh; Trình độ văn hóa: Lớp 12/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Con ông: Lê Xuân Hòa (đã chết); Con bà Nguyễn Thị Vinh. Tiền án, tiền sự: Không. Nhân thân: Bản án số 663/2017/HSST ngày 07/9/2017 của Tòa án nhân dân huyện Thanh Chương, tỉnh Nghệ An xử phạt 03 tháng tù cho hưởng án treo về tội “Đánh bạc”.
Danh chỉ bản số 426 ngày 02/7/2020 do Công an quận Hà Đông, Hà Nội thiết lập. Tạm giữ, tạm giam từ ngày 01/7/2020. Bị cáo hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam số 2 Công an Thành phố Hà Nội. Có mặt tại phiên tòa.
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
1. Anh Nguyễn Văn C, sinh năm 1986. Trú tại: Thôn Nội Viên, xã Lạc Vệ, huyện Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh. Vắng mặt.
2. Chị Lê Thị Q, sinh năm 1981. Trú tại: Khu Hành chính Thọ Sơn, huyện Đoan Hùng, tỉnh Phú Thọ. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Bị cáo bị Viện kiểm sát nhân dân quận Hà Đông, thành phố Hà Nội truy tố về hành vi phạm tội như sau:
Hồi 10 giờ 15 phút ngày 29/6/2020, tổ công tác Công an phường Phúc La, quận Hà Đông, thành phố Hà Nội kiểm tra hành chính 02 đối tượng khai tên là Lê Xuân L và Trịnh Thị Hồng tại khu vực quán nước trước cồng Bệnh viện quân y 103 (thuộc phường Phúc La, quận Hà Đông, thành phố Hà Nội). Nghi vấn đối tượng Lê Xuân L có hành vi môi giới mua bán bộ phận cơ thể người nên tổ công tác đã bàn giao Cơ quan điều tra Công an quận Hà Đông giải quyết theo thẩm quyền. Qua điều tra, đã xác định hành vi phạm tội của Lê Xuân L như sau:
Khoảng tháng 8/2018, L có bán 01 quả thận cho một người cần ghép thận tại Bệnh viện Việt Đức, Hà Nội nên biết có nhiều bệnh nhân có nhu cầu tìm mua thận để ghép. Việc môi giới mua bán thận có thể mang lại lợi nhuận cao. L đã tham gia vào nhiều nhóm Facebook, zalo dể tìm người mua, bán thận. Khi có người liên hệ, L thỏa thuận với người mua thận với giá từ 430.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng/1quả thận; người bán thận sẽ được trả 250.000.000 đồng đến 300.000.000 đồng/1 quả thận; mọi chi phí ăn ở của người bán thận, khám và phẫu thuật của người cho thận do L chi trả. Khi người bán và người mua thận đã gặp mặt, nhất trí L sẽ đưa người bán thận đến Bệnh viện 103 làm các xét nghiệm theo quy định của Bệnh viện. Người bán thận phải hoàn thiền hồ sơ đăng ký hiến thận tự nguyện tại Bệnh viện 103. Ngay sau khi phẫu thuật thành công, người nhà của người bệnh sẽ chuyển tiền trả cho L và người bán thận theo thỏa thuận; L có trách nhiệm chăm sóc người bán thận cho đến khi xuất viện.
L đã thực hiện thành công 02 vụ mua bán thận, cụ thể:
Lần thứ nhất: Khoảng tháng 02/2019, anh Nguyễn Văn C, (sinh năm 1986. Trú tại: Thôn Nội Viên, xã Lạc Vệ, huyện Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh) muốn bán 01 quả thận. Qua đối tượng tên Hồng (Hiện chưa xác minh được nhân thân) giới thiệu đến gặp L thỏa thuận bán 01 quả thận với giá 280.000.000 đồng; trong đó Hồng được hưởng 50.000.000 đồng, anh C được hưởng 230.000.000 đồng. L sắp xếp anh C ở tại phòng P744-CT10A chung cư Đại Thanh và đến Bệnh viện 103 khám và có kết quả sức khỏe đủ điều kiện để hiến thận. Anh C làm thủ tục tự nguyện hiến mô, bộ phận cơ thể ở người sống gửi Bệnh viện 103. Cùng thời gian này, anh Bùi Minh Hải (sinh năm 1979; trú tại: Tổ 7, khu 4, phường Bãi Cháy, Thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh) cần ghép thận nên đã liên lạc với L. L bố trí cho anh Hải gặp anh C và anh Hải đồng ý mua 01 quả thận với giá 460.000.000 đồng, chi phí bệnh viện do phía L chi trả. Đến ngày 04/4/2019, ca ghép thận giữa người cho là anh C và người nhận là anh Hải được thực hiện tại Bệnh viện Quân y 103 thành công. Gia đình anh Hải đã chuyển cho anh C số tiền 230.000.000 đồng; chuyển cho Hải số tiền 190.000.000 đồng. Hải chuyển cho Hồng 50.000.000 đồng. Số tiền còn lại, trừ chi phí bệnh viện, ăn, ở của anh C, L được hưởng 80.000.000 đồng.
Lần thứ hai: Khoảng tháng 02/2019, chị Lê Thị Q (sinh năm 1981; trú tại: Khu hành chính Thọ Sơn, Đoan Hùng, Phú Thọ có nhu cầu bán thận. Qua đối tượng tên Hướng (Hiện chưa xác minh được nhân thân) giới thiệu đến gặp L thỏa thuận bán 01 quả thận với giá 280.000.000 đồng; trong đó Hướng được hưởng 20.000.000 đồng, chị Q được hưởng 260.000.000 đồng. L đưa chị Q đến Bệnh viện 103 khám và có kết quả sức khỏe đủ điều kiện để hiến thận. Chị Q làm thủ tục tự nguyện hiến mô, bộ phận cơ thể ở người sống gửi Bệnh viện 103. Cùng thời gian này, anh Ngô Thanh Tùng (sinh năm 1978; trú tại: Tổ 83, khu 5, phường Bạch Đằng, Thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh) cần ghép thận nên đã liên lạc với L. L bố trí cho anh Tùng gặp chị Q và anh Tùng đồng ý mua 01 quả thận với giá 500.000.000 đồng, chi phí bệnh viện do phía L chi trả. Quá trình thực hiện thủ tục phẫu thuật, anh Tùng đã nộp 60.000.000 đồng và đưa cho L 10.000.000 đồng. Đến ngày 18/3/2020, ca ghép thận giữa người cho là chị Q và người nhận là anh Tùng được thực hiện tại Bệnh viện Quân y 103 thành công. Gia đình anh Tùng đã chuyển cho chị Q số tiền 260.000.000 đồng; chuyển cho L số tiền 170.000.000 đồng. L chuyển cho Hướng 20.000.000 đồng. Số tiền còn lại, trừ chi phí bệnh viện và các chi phí khác, L được hưởng 110.000.000 đồng.
Ngoài ra, L còn tìm được 03 người có nhu cầu bán thận là chị Trịnh Thị Hồng (sinh năm 1988; trú tại xã Lạc Vệ, huyện Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh); chị Phí Thị Bích Liên (sinh năm 1980; trú tại phường Thống nhất, thành phố Nam Định, tỉnh Nam định) và một người tên Tuấn (hiện chưa xác minh được nhân thân). Khi chưa thực hiện được việc bán thận thì bị phát hiện.
Chiếc điện thoại di động L dùng liên lạc khi môi giới mua bán thận, L đã đem cầm cố nên Cơ quan điều tra không thu giữ được.
Cơ quan điều tra đã quyết định trưng cầu giám định tổn hại sức khỏe đối với anh Nguyễn Văn C và chị Lê Thị Q.
Tại các Kết luận giám định số 894 ngày 08/9/2020 đối với anh Nguyễn Văn C và số 942 ngày 17/9/2020 đối với chị Lê Thị Q của Trung tâm Pháp Y, Sở Y tế Hà Nội kết luận tình trạng sức khỏe của những người đã bán thận như sau:
Anh Nguyễn Văn C có các sẹo vết mổ, vết dẫn lưu 04%; Cắt thận phải, thận trái bình thường 41%. Tỷ lệ tổn hại sức khỏe là 43%, tính theo phương pháp c ng lùi.
Chị Lê Thị Q có các sẹo vết mổ, vết dẫn lưu 07%; Cắt thận phải, thận trái bình thường. Tỷ lệ tổn hại sức khỏe là 45%, tính theo phương pháp c ng lùi.
Quá trình điều tra, anh C, chị Q không có đề nghị gì về phần trách nhiệm dân sự. Hồ sơ thực hiện việc ghép thận đối với anh Bùi Minh Hải và anh Ngô Thanh Tùng lưu giữ tại Bệnh viện Quân y 103 thể hiện đúng quy định hiện hành.
Đối với đối tượng tên Hồng và Hướng, Cơ quan điều tra đang tiếp tục xác minh làm rõ, khi nào có căn cứ sẽ tiếp tục xử lý sau.
Với nội dung như trên, tại Cáo trạng số 274/CT-VKS-HS ngày 23/11/2020, Viện kiểm sát nhân dân quận Hà Đông đã truy tố Lê Xuân L về tội “Mua bán bộ phận cơ thể người” theo quy định tại điểm d khoản 2 Điều 154 của Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm truy tố sau khi xem xét các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo đã đề nghị Hội đồng xét xử:
- Áp dụng điểm d khoản 2 Điều 154; điểm s khoản 1, khoản 2 điều 51; điều 38 Bộ luật hình sự, xử phạt: Lê Xuân L từ 09 đến 10 năm tù về tội “Mua bán bộ phận cơ thể người”. Đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
- Về xử lý vật chứng: Số tiền thu lời bất chính 190.000.000 đồng của bị cáo đề nghị tịch thu sung quỹ Nhà nước.
- Về trách nhiệm dân sự: Không xem xét do những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không có yêu cầu.
Bị cáo xin được xem xét hưởng hình phạt nhẹ nhất để sớm được trở về gia đình.
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được thẩm tra tại phiên tòa; Căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa trên cơ sở xem xét đầy đủ toàn diện ý kiến của Kiểm sát viên, lời khai nhận tội của bị cáo và các tài liệu chứng cứ khác.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã được thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định trong Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định của người tiến hành tố tụng; Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của những người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về hành vi phạm tội của bị cáo: Có đủ căn cứ kết luận: Trong khoảng thời gian từ tháng 3/2019 đến tháng 7/2020, Lê Xuân L đã sử dụng số điện thoại của mình tham gia mạng xã hội Facebook, Zalo thực hiện việc mua bán thận kiếm lời.
Lê Xuân L đã thỏa thuận thực hiện thành công việc mua của anh Nguyễn Văn C 01 quả thận với giá 230.000.000 đồng để bán cho người cần ghép thận là anh Bùi Minh Hải với giá 480.000.000 đồng, L được hưởng lợi 80.000.000 đồng. Anh C bị cắt mất 01 quả thận phải, tổn hại 43% sức khỏe.
L thỏa thuận thực hiện thành công việc mua 01 quả thận của chị Lê Thị Q với giá 260.000.000 đồng để bán cho người cần ghép thận là anh Ngô Thanh Tùng với giá 500.000.000 đồng; L được hưởng lợi 110.000.000 đồng. Chị Q bị cắt mất 01 quả thận phải, tổn hại 45% sức khỏe.
Tổng số tiền hưởng lợi của 02 hành vi theo bị cáo khai nhận là 190.000.000 đồng.
Hành vi của Lê Xuân L đã cấu thành tội “Mua bán b phận cơ thể người” quy định tại điểm d khoản 2 điều 154 Bộ luật Hình sự như cáo trạng Viện kiểm sát nhân dân quận Hà Đông đã truy tố.
Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm trực tiếp đến tính mạng, sức khỏe của người khác; gây mất trật tự xã hội và gây hoang mang lo lắng cho quẩn chúng nhân dân, nhất là trong tình hình các tội phạm xâm phạm cơ thể con người ngày càng phức tạp. Bị cáo là thanh niên trẻ nhưng không tìm con đường làm ăn chân chính mà tìm cách trục lợi trên sự khó khăn về vật chất, nguy hiểm về sức khỏe, tính mạng của người khác tính nên cần có mức hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội để giáo dục bị cáo và phòng ngừa tội phạm chung.
Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và quyết định hình phạt: Sau khi phạm tội bị cáo đã đầu thú; đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bản thân bị cáo cũng là người đã mất 01 quả thận nên sức khỏe có phần hạn chế nên được xem xét giảm nhẹ theo quy định tại điều 51 Bộ luật hình sự .
Về hình phạt bổ sung: Bị cáo không có nghề nghiệp ổn định nên không cần thiết áp dụng hình phạt bổ sung.
Về trách nhiệm dân sự: Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có đề nghị nên Tòa không xét.
Về xử lý vật chứng: Số tiền bị cáo thu lời bất chính 190.000.000 đồng cần tịch thu sung quỹ Nhà nước
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.
Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo bản án theo quy định tại Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
1. Tuyên bố bị cáo Lê Xuân L phạm tội: “Mua bán b phận cơ thể người”.
2. Căn cứ điểm d khoản 2 điều 154; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự xử phạt: Lê Xuân L 09 (chín) năm 03 (ba) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 01/7/2020.
3. Về xử lý vật chứng: Áp dụng điều 47 Bộ luật Hình sự; điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự: Buộc bị cáo phải nộp số tiền 190.000.000 đồng sung quỹ Nhà nước.
4. Về án phí: Áp dụng Điều 135, Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết của Quốc Hội về án phí, lệ phí Tòa án buộc bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
5. Về quyền kháng cáo: Áp dụng điều 331, 333 Bộ luật tố tụng hình sự: Bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
| Nơi nhận: - TAND TP Hà N i; - VKSND TP Hà N i; - VKSND quận Hà Đông; - Công an quận Hà Đông; - THADS quận Hà Đông; - UBND phường (xã) nơi bị cáo cư trú; - Bị cáo; - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan; - Lưu HS, VT. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Nguyễn Thị Thu Hòa |