vanban.org

Bản án 255/2024/QĐST-DS — Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người mất năng lực hành vi dân sự, bị hạn chế năng lực hành vi dân sự hoặc có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi

TAND Quận 6, TP. Hồ Chí Minh Tuyên án 15/08/2024 Dân sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu giải quyết việc dân sự của bà Phạm Thị Thanh T:

Tuyên bố bà Phạm Phạm Tuyết N, sinh năm 1971, căn cước công dân số: xxxxxxxxxxxx do Cục Cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội cấp ngày 14/8/2019; Trú ta ̣i: E L, Phường A, Quận F, Thành phố Hồ Chí Minh là người mất năng lực hành vi dân sự. Tuyên bố bà Phạm Phạm Tuyết T1, sinh năm 1973, c… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người mất năng lực hành vi dân sự, bị hạn chế năng lực hành vi dân sự hoặc có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi — án dân sự — "tuyên bố mất năng lực hành vi dân sự"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu giải quyết việc dân sự của bà Phạm Thị Thanh T:
  • Căn cứ chính? Điều 149 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 22 Bộ luật Dân sự; Điều 27 Bộ luật Tố tụng dân sự
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 255/2024/QĐST-DSQuận 6, ngày 15 tháng 8 năm 2024

QUYẾT ĐỊNH

SƠ THẨM GIẢI QUYẾT VIỆC DÂN SỰ

V/v yêu cầu tuyên bố một người mất năng lực hành vi dân sự

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 6- THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Thành phần giải quyết việc dân sự gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên họp: Ông Nguyễn Hồng Nam.

Thư ký phiên họp: Bà Đỗ Thị Thư Nhàn – Cán bộ Tòa án nhân dân Quận 6, Thành phố Hồ Chí Minh.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 6 tham gia phiên họp:Bà Nguyễn Thị Thanh Hà - Kiểm sát viên.

Ngày 15 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân Quận 6, Thành phố Hồ Chí Minh mở phiên họp sơ thẩm công khai giải quyết việc dân sự thụ lý số 227/2024/TLST-DS ngày 11 tháng 6 năm 2024 về việc: “Yêu cầu tuyên bố một người mất năng lực hành vi dân sự” theo Quyết định mở phiên họp sơ thẩm giải quyết việc dân sự số 20/2024/QĐST-DS ngày 07 tháng 8 năm 2024, gồm những người tham gia tố tụng sau đây:

Người yêu cầu giải quyết việc dân sự: Bà Phạm Thị Thanh T, sinh năm 1974; Đi ̣a chi thường trú: E L, Phường A, Quận F, Thành phố Hồ Chí Minh. Địa chỉ liên̉ lạc: A3 206 Chung cư E, phường A, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh.

Đối với:

1/ Bà Phạm Phạm Tuyết N, sinh năm 1971; Căn cước công dân số : xxxxxxxxxxxx do Cục Cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội cấp ngày 14/8/2019; Đi ̣a chi thưở

̀ ng trú: E L, Phường A, Quận F, Thành phố Hồ Chí Minh.

2/ Bà Phạm Phạm Tuyết T1, sinh năm 1973; Căn cước công dân số : xxxxxxxxxxxx do Cục Cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội cấp ngày 09/5/2024. Đi ̣a chi thưở

̀ ng trú: E L, Phường A, Quận F, Thành phố Hồ Chí Minh.

NỘI DUNG VIỆC DÂN SỰ:

Tại đơn yêu cầu Tòa án giải quyết việc dân sự và bản tự khai, người yêu cầu là bà Phạm Thị Thanh T yêu cầu Tòa án tuyên bố bà Phạm Phạm Tuyết N, căn cước công dân số: xxxxxxxxxxxx do Cục Cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội cấp ngày 14/8/2019 và bà Phạm Phạm Tuyết T1, căn cước công dân số: xxxxxxxxxxxx do Cục Cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội cấp ngày 09/5/2024, cùng đi ̣a chi thưở

̀ ng trú: E L, Phường A, Quận F, Thành phố Hồ Chí Minh là người mất năng lực hành vi dân sự.

Bà Phạm Thị Thanh T trình bày:

Đối với bà Phạm Phạm Tuyết N: Năm 1998, bà N đang làm việc tại Ngân hàng TMCP Đ thì bắt đầu phát bệnh. Bà có biểu hiện không kiểm soát được hành vi của mình, thường xuyên hoang tưởng, không ăn, không ngù được, tính tình trở nên hung dữ. Tuy gia đình cũng đã đưa bà N đi điều trị nhưng bà không hợp tác. Theo Kết luận giám định pháp y tâm thần số 5312/KLGĐ ngày 05/7/2024 của Trung tâm pháp y tâm thần khu vực Thành phố H thì bà Phạm Phạm Tuyết N đã mất khả năng nhận thức và điều khiển hành vi.

Đối với bà Phạm Phạm Tuyết T1: Năm 2005, bà T1 đang là giảng viên khoa Công nghệ thông tin, Trường Đại học Khoa học tự nhiên Thành phố H, học vị thạc sĩ. Tuy nhiên sau đó do ảnh hưởng của chuyện tình cảm nên bà T1 bắt đầu có dấu hiệu trầm cảm. Kể từ thời điểm đó, bà T1 thường xuyên có những biểu hiện không kiểm soát hành vi, chửi rủa, cười ngây dại và nhổ nước bọt liên tục. Bà T1 cũng có thái độ không hợp tác trong việc điều trị. Theo Kết luận giám định pháp y tâm thần số 5311/KLGĐ ngày 05/7/2024 của Trung tâm pháp y tâm thần khu vực Thành phố H thì bà Phạm Phạm Tuyết T1 đã mất khả năng nhận thức và điều khiển hành vi.

Hiện bà N và bà T1 độc thân, không có chồng con (kể cả con nuôi), ba mẹ của bà N và bà T1 đã mất. Do đó, bà T yêu cầu Tòa án tuyên bố bà Phạm Phạm Tuyết N, căn cước công dân số: xxxxxxxxxxxx do Cục Cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội cấp ngày 14/8/2019, đi ̣a chi thưở

̀ ng trú: E L, Phường A, Quận F, Thành phố Hồ Chí Minh và bà Phạm Phạm Tuyết T1, căn cước công dân số: xxxxxxxxxxxx do Cục Cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội cấp ngày 09/5/2024, đi ̣a chi thưở

̀ ng trú: E L, Phường A, Quận F, Thành phố Hồ Chí Minh là người mất năng lực hành vi dân sự.

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân Quận 6 phát biểu ý kiến: Căn cứ vào Kết luận giám định pháp y tâm thần số 5311/KLGĐ ngày 05/7/2024 và Kết luận giám định pháp y tâm thần số 5312/KLGĐ ngày 05/7/2024 của Trung tâm pháp y tâm thần khu vực Thành phố H, đề nghị Tòa án chấp nhận yêu cầu của bà Phạm Thị Thanh T tuyên bố bà Phạm Phạm Tuyết N, sinh năm 1971 và bà Phạm Phạm Tuyết T1, sinh năm 1973 là người mất năng lực hành vi dân sự.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc dân sự được thẩm tra tại phiên họp; ý kiến của các đương sự và đại diện Viện kiểm sát tại phiên họp, Tòa án nhân dân Quận 6 nhận định:

Về thẩm quyền giải quyết của Tòa án:

Yêu cầu về việc “Yêu cầu tuyên bố một người mất năng lực hành vi dân sự” là loại việc dân sự thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo quy định tại Khoản 1 Điều 27 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

Bà Phạm Phạm Tuyết N và bà Phạm Phạm Tuyết T1 có nơi cư trú tại E L, Phường A, Quận F, Thành phố Hồ Chí Minh nên căn cứ vào điểm a Khoản 2 Điều 35, điểm a Khoản 2 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, yêu cầu trên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân Quận 6, Thành phố Hồ Chí Minh.

Về yêu cầu của đương sự:

Người yêu cầu là bà Phạm Thị Thanh T yêu cầu Tòa án tuyên bố bà Phạm Phạm Tuyết N, căn cước công dân số: xxxxxxxxxxxx do Cục Cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội cấp ngày 14/8/2019, đi ̣a chi thưở

̀ ng trú: E L, Phường A, Quận F, Thành phố Hồ Chí Minh và bà Phạm Phạm Tuyết T1, căn cước công dân số: xxxxxxxxxxxx do Cục Cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội cấp ngày 09/5/2024, đi ̣a chi thưở

̀ ng trú: E L, Phường A, Quận F, Thành phố Hồ Chí Minh là người mất năng lực hành vi dân sự.

Tại bản Kết luận giám định pháp y tâm thần theo trưng cầu số 5311/KLGĐ ngày 05/7/2024 của Trung tâm pháp y tâm thần khu vực Thành phố H, kết luận bà Phạm Phạm Tuyết T1, sinh năm 1973 như sau:

- Về y học: Đương sự bị bệnh Tâm thần phân liệt, thể di chứng, tiến triển từng giai đoạn với thiếu sót tăng dần (F20.51 – ICD10).

- Về khả năng nhận thức và điều khiển hành vi: Đương sự mất khả năng nhận thức và điều khiển hành vi.

Tại bản Kết luận giám định pháp y tâm thần theo trưng cầu số 5312/KLGĐ ngày 05/7/2024 của Trung tâm pháp y tâm thần khu vực Thành phố H, kết luận bà Phạm Phạm Tuyết N, sinh năm 1971 như sau:

- Về y học: Đương sự bị bệnh Tâm thần phân liệt, thể hoang tưởng, giai đoạn tiến triển liên tục (F20.00 – ICD10).

- Về khả năng nhận thức và điều khiển hành vi: Đương sự mất khả năng nhận thức và điều khiển hành vi.

Qua những nhận định trên, có đủ cơ sở tuyên bố bà Phạm Phạm Tuyết N, sinh năm 1971, căn cước công dân số: xxxxxxxxxxxx do Cục Cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội cấp ngày 14/8/2019 và bà Phạm Phạm Tuyết T1, sinh năm 1973, căn cước công dân số: xxxxxxxxxxxx do Cục Cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội cấp ngày 09/5/2024 là người mất năng lực hành vi dân sự theo quy định tại Điều 22 Bộ luật Dân sự năm 2015.

Về lệ phí: Bà Trần Minh K phải chịu lệ phí giải quyết việc dân sự sơ thẩm là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) đối với bà Phạm Phạm Tuyết N và phải chịu lệ phí giải quyết việc dân sự sơ thẩm là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) đối với bà Phạm Phạm Tuyết T1.

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ Khoản 1 Điều 27, điểm a Khoản 2 Điều 35, điểm a Khoản 2 Điều 39, Khoản 1 Điều 149, Điều 361, Điều 367, Điều 370, Điều 371, Điều 372, Điều 376, Điều 377 và Điều 378 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;

- Căn cứ Điều 22 Bộ luật Dân sự 2015;

- Căn cứ Điều 37 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án

1. Chấp nhận yêu cầu giải quyết việc dân sự của bà Phạm Thị Thanh T:

Tuyên bố bà Phạm Phạm Tuyết N, sinh năm 1971, căn cước công dân số: xxxxxxxxxxxx do Cục Cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội cấp ngày 14/8/2019; Trú ta ̣i: E L, Phường A, Quận F, Thành phố Hồ Chí Minh là người mất năng lực hành vi dân sự.

Tuyên bố bà Phạm Phạm Tuyết T1, sinh năm 1973, căn cước công dân số: xxxxxxxxxxxx do Cục Cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội cấp ngày 09/5/2024; Trú ta ̣i: E L, Phường A, Quận F, Thành phố Hồ Chí Minh là người mất năng lực hành vi dân sự.

2. Lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự:

Đối với bà Phạm Phạm Tuyết N: Bà Phạm Thị Thanh T phải chịu lệ phí sơ thẩm là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng), nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng lệ phí đã nộp 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai số 0010029 ngày 11/6/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự Quận 6, Thành phố Hồ Chí Minh; Bà T đã nộp đủ lệ phí.

Đối với bà Phạm Phạm Tuyết T1: Bà Phạm Thị Thanh T phải chịu lệ phí sơ thẩm là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng), nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng lệ phí đã nộp 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai số 0010030 ngày 11/6/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự Quận 6, Thành phố Hồ Chí Minh; Bà T đã nộp đủ lệ phí.

3. Quyền kháng cáo, kháng nghị: Các đương sự có quyền kháng cáo quyết định này trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày Tòa án ra quyết định. Viện kiểm sát có quyền kháng nghị quyết định này theo thủ tục phúc thẩm theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

4. Quyền yêu cầu thi hành án, nghĩa vụ thi hành án, thời hiệu yêu cầu thi hành án: Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7 và Điều 9 của Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 của Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ