vanban.org

Bản án 255/2022/HS-ST — Hình sự

TAND TX. Dĩ An, tỉnh Bình Dương Tuyên án 30/08/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố các bị cáo Phan Trọng Q, Võ Quốc C, Phạm Văn L phạm tội “Trộm cắp tài sản” (chưa đạt)

1 Căn cứ vào điểm g khoản 2 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 15 và Điều 58 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 Xử phạt bị cáo Phan Trọng Q 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Bị cáo Phan Trọng Q cùng đồng phạm - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố các bị cáo Phan Trọng Q, Võ Quốc C, Phạm Văn L phạm tội “Trộm cắp tài sản” (chưa đạt)
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 173 Bộ luật Hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ DĨ AN
TỈNH BÌNH DƯƠNG
——————————

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 255/2022/HS-ST
Ngày 30 - 8 - 2022

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ DĨ AN TỈNH BÌNH DƯƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Ông Vũ Linh.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Nguyễn Văn Hoàn.

2. Bà Nguyễn Thị Kim Hoa.

- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Ngọc Mai, Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An tham gia phiên toà: Ông Lê Thanh Tùng, Kiểm sát viên.

Ngày 30 tháng 8 năm 2022 tại Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương xét xử sơ thẩm công khai bằng hình thức trực tuyến, một điểm cầu tại Hội trường A trụ sở Toà án nhân dân thành phố Dĩ An và 01 điểm cầu tại nhà tạm giữ Công an thành phố Dĩ An. Vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 209/2022/HSST ngày 12 tháng 7 năm 2022, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 245/2022/QĐXXST-HS ngày 09/8/2022 đối với các bị cáo:

1. Phan Trọng Q, sinh năm 1990 tại tỉnh Hà Tĩnh; thường trú: Xóm 1 xã Đ, huyện K tỉnh Hà Tĩnh; giới tính: Nam; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; nghề nghiệp: Lái xe; trình độ học vấn: 11/12; con ông Phan Trọng X, sinh năm 1960 (đã chết) và con bà Trần Thị T, sinh năm 1970; bị cáo có 03 anh em ruột, bị cáo là thứ nhất.

Tiền án:

+ Ngày 19/01/2010, Tòa án nhân dân tỉnh Hà Tĩnh xử phúc thẩm tuyên phạt 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, theo bản án số 03/2010/HSPT, ngày 03/9/2010 chấp hành xong hình phạt tù.

+ Ngày 07/12/2012, Tòa án nhân dân quận Thủ Đức (nay là thành phố Thủ Đức) Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 10 tháng tù giam về tội “Trộm cắp tài sản” theo bản án số 338/2012/HSST .

+ Ngày 27/11/2015, Tòa án nhân dân huyện Hương Khê, tỉnh Hà Tĩnh xử phạt 42 tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích” theo bản án số 48/2015/HSST, chấp hành xong hình phạt tù ngày 16/6/2018.

+ Ngày 29/3/2019, Tòa án nhân dân huyện Hương Khê, tỉnh Hà Tĩnh xử phạt 15 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” theo bản án số 06/2019/HSST, chấp hành xong hình phạt tù ngày 22/4/2020.

Tiền sự: Ngày 21/9/2020, Công an huyện Hương Khê, tỉnh Hà Tĩnh ra Quyết định số 29 xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “Xâm hại đến sức khỏe của người khác” xử phạt 2.500.000 đồng, ngày 29/12/2021 Quân đóng phạt

Bị cáo bị tạm giữ, bắt tạm giam ngày 27/3/2022, có mặt.

2. Võ Quốc C, sinh năm 1993 tại tỉnh Hà Tĩnh; thường trú: Xóm 1 xã G huyện K, tỉnh Hà Tĩnh; giới tính: Nam; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Thiên chúa; nghề nghiệp: Lơ xe; trình độ học vấn: 6/12; con ông Võ Văn A, sinh năm 1968 và con bà Đặng Thị L, sinh năm 1970; bị cáo có vợ tên Nguyễn Thị H, sinh năm 2000 và 01 con sinh năm 2018; tiền án, tiền sự: Không có.

Nhân thân: Ngày 18/11/2010 Tòa án nhân dân huyện Dĩ An (nay là thành phố Dĩ An), tỉnh Bình Dương xử phạt 02 năm tù về tội “Cướp giật tài sản”, theo bản án số 291, ngày 05/4/2012 chấp hành xong hình phạt tù (bị cáo phạm tội khi chưa đủ 17 tuổi)

Bị cáo bị tạm giữ, bị bắt tạm giam ngày 27/3/2022, có mặt.

3. Phạm Văn L, sinh năm 1991 tại tỉnh Hà Tĩnh; thường trú: Xóm 3 xã G huyện K tỉnh Hà Tĩnh; giới tính: Nam; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Thiên chúa; nghề nghiệp: Công nhân; trình độ học vấn:7/12; con ông Phạm L, sinh năm 1954 và con bà Hoàng Thị T, sinh năm 1956; bị cáo có 07 anh chị em ruột, bị cáo là thứ 4; tiền án, tiền sự: Không có; bị cáo bị tạm giữ, bắt tạm giam ngày 27/3/2022, có mặt.

Bị hại: Anh Nguyễn Xuân T, sinh năm 1995; thường trú: Khối 15 thị trấn K, tỉnh Hà Tĩnh, vắng mặt.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án.

1.Chị Nguyễn Thị N, sinh năm 1995; thường trú: Thôn D xã T, huyện K tỉnh Hà Tĩnh, có mặt

2. Chị Nguyễn Thị H, sinh năm 2000; thường trú: Xóm 1 xã G huyện K tỉnh Hà Tĩnh, có mặt.

Người làm chứng: Anh Nguyễn Văn Ư, vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Các bị cáo Phạm Văn L, Phan Trọng Q, Võ Quốc C là bạn. Vào lúc 21 giờ 45 ngày 26/3/2022, sau khi đi ăn uống tại hầm rượu Trần Long, Q điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave A màu xám, biển số 38B1 – 258.52 đến phòng trọ của L nói L “đi mần không” (tức đi trộm xe mô tô). Q sử dụng điện thoại nhãn hiệu Nokia 105 có sim số 0973.049.799 gọi điện rủ C tham gia cùng. Sau đó Q điều khiển xe mô tô biển số 38B1 – 258.52 chở L, khi cả hai ra khỏi đầu hẻm trọ của L gặp C đi xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Exciter 150, màu đen nhám, biển số 38B1-273.88 đến. C lấy 02 đoản hình chữ T (dùng để mở khóa xe mô tô) gói trong khẩu trang y tế màu trắng đưa cho L. Q điều khiển xe mô tô biển số 38B1-258.52 màu xám chở L, C điều khiển xe biển số 38B1-273.88 chạy theo sau khi cả ba đi đến dãy nhà trọ địa chỉ 45A/21A khu phố Bình Đường 1, phường An Bình, thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương nhìn thấy xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Exciter 150, màu đỏ đen biển số 38B1-159.88 dựng ở hành lang trước cửa phòng trọ thứ nhất. Q, C dừng xe trước dãy trọ và ngồi trên xe cảnh giới, L xuống xe đi đến tiếp cận xe mô tô Yamaha Exciter 150, màu đỏ đen biển số 38B1-159.88, dựng thẳng xe và lùi ra hướng ngoài đường được khoảng 30 cm, lúc này anh Nguyễn Xuân T và anh Nguyễn Văn Ư đang ở trong phòng trọ phát hiện chạy ra truy hô. L bỏ chạy ra ngoài lên xe của C tẩu thoát, Q chạy theo sau. Khi tất cả di chuyển đến cầu vượt Sóng Thần thì dừng xe lại, L qua xe của Q chở. Sau đó, cả nhóm tiếp tục di chuyển vào trong dãy trọ địa chỉ 128/4 khu phố Bình Đường 3, phường An Bình, thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương thì gặp Công an phường An Bình, thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương tuần tra kiểm tra hành chính, L ném 02 đoản hình chữ T gói trong khẩu trang y tế xuống đất thì bị Công an phường An Bình lập biên bản và yêu cầu tất cả về trụ sở làm việc. Tại đây L đầu thú khai nhận hành vi phạm tội, sau đó Q, C khai nhận hành vi phạm tội của mình.

Vật chứng thu giữ: 02 cây đoản hình chữ T bằng kim loại; 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave A, số khung RLHJA3927MY127245, số máy: JA39E2244579, màu xanh - đen - bạc, biển số 38B1 – 258.52; một xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Exciter, màu đen – bạc, số khung: RLCUG1220NY017605; số máy G3M5E139368, biển số 38B1 – 273.88; 03 điện thoại di động cùng nhãn hiệu Nokia 105 màu đen gắn các sim số 0922.787.868; 0973.049.799; 0356.892.232; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 13Promax màu Gold gắn sim số 0972.101.567

Vật chứng đã xử lý: Trả chị Nguyễn Thị N 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 13Promax màu Gold gắn sim số 0972.101.567 do là tài sản hợp pháp của chị N.

Bản kết luận định giá tài sản số 38 ngày 04/5/2022 của Hội đồng định giá tài sản thường xuyên trong tố tụng hình sự - UBND thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương kết luận:

+ Xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Exciter, màu sơn đỏ - đen, số khung 0610HY455710, số máy G3D4E476834, biển số 38B1 – 159.88 trị giá 32.000.000 đồng.

- Bản kết luận định giá tài sản số 48 ngày 10/5/2022 của Hội đồng định giá tài sản thường xuyên trong tố tụng hình sự - UBND thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương kết luận:

+ Xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Exciter, màu sơn đen – bạc, số khung RLCUG1220NY017605, số máy G3M5E139368, biển số 38B1 – 273.88 trị giá 42.000.000 đồng.

Về trách nhiệm dân sự: Bị hại Nguyễn Xuân T đã nhận lại xe và không yêu cầu bồi thường gì khác.

Cáo trạng số 236/CT – VKS ngày 12 tháng 7 năm 2022, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương truy tố các bị cáo

+ Phan Trọng Q về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định điểm g khoản 2 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017

+ Phạm Văn L, Võ Quốc C về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017

Tại phiên tòa, trong phần tranh luận đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng thêm Điều 15 (phạm tội chưa đạt) Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 đối với tất cả các bị cáo và đưa ra quan điểm

+ Điểm g khoản 2 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 15 và Điều 58 Bộ luật hình xử năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 xử phạt bị cáo Phan Trọng Q từ 03 năm đến 03 năm 06 tháng tù.

+ Khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1 Điều 51, Điều 15 và Điều 58 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 xử phạt bị cáo Võ Quốc C từ 01 năm 06 tháng đến 2 năm tù.

+ Khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1, 2 Điều 51, Điều 15 và Điều 58 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 xử phạt bị cáo Phạm Văn L từ 01 năm đến 01 năm 06 tháng tù.

Vật chứng: Đề nghị Hội đồng xét xử tịch thu sung vào ngân sách nhà nước xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave A, số khung RLHJA3927MY127245, số máy JA39E2244579, màu xanh - đen - bạc, biển số 38B1 – 258.52; 1/2 giá trị xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Exciter, màu đen – bạc, số khung: RLCUG1220NY017605; số máy: G3M5E139368, biển số 38B1 – 273.88; 03 điện thoại di động cùng nhãn hiệu Nokia 105 màu đen.

Tịch thu tiêu hủy: 02 cây đoản hình chữ T bằng kim loại; sim số điện thoại 0922.787.868; 0973.049.799; 0356.892.232.

Trả lại chị Nguyễn Thị H 1/2 giá trị xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Exciter, màu đen – bạc, số khung RLCUG1220NY017605; số máy G3M5E139368, biển số 38B1 – 273.88.

Các bị cáo Q, L và C không tranh luận, bào chữa cho hành vi phạm tội.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Chị Nguyễn Thị N không tranh luận, bào chữa bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp của mình. Chị Nguyễn Thị H đề nghị Hội đồng xét xử trả lại ½ giá trị xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Exciter, màu đen – bạc, biển số 38B1 – 273.88 do là tài sản chung của chị và bị cáo C.

Trước khi Hội đồng xét xử nghị án, các bị cáo nói lời sau cùng: Tất cả các bị cáo xin giảm nhẹ mức hình phạt thấp nhất

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về thủ tục tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố Dĩ An, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra các bị cáo, người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hay khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Chứng cứ xác định có tội của các bị cáo: Tối ngày 26/3/2022 Phan Trọng Q, Phạm Văn L, Võ Quốc C lén lút chiếm đoạt xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Exciter, màu sơn đỏ - đen, biển số 38B1 – 159.88 trị giá 32.000.000 đồng của anh Nguyễn Xuân T, nhưng khi dịch chuyển xe được khoảng 30 cm và chưa đưa xe ra khỏi nhà trọ thì bị phát hiện truy đuổi. Như vậy, hành vi trên của các bị cáo Q, L và C là hành vi của tội “Trộm cắp tài sản” thuộc trường hợp “Phạm tội chưa đạt”. Đối với bị cáo Q lần phạm tội này thuộc trường hợp tái phạm nguy hiểm. Bản cáo trạng số 236/CT-VKS ngày 12/7/2022 của Viện kiểm sát thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương truy tố bị cáo Q về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm g khoản 2 Điều 173; bị cáo Phạm Văn L, Võ Quốc C theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 như trình bày luận tội của Kiểm sát viên đối với các bị cáo tại phiên tòa là có căn cứ pháp luật

[3] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo Q, L và C không có.

[4] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo Q, L và C trong quá trình điều tra các bị cáo thể hiện thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Bị cáo L, C phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, bị cáo L đầu thú. Tình tiết trên được quy định tại điểm i, s khoản 1, 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 1015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

[5] Về nhân thân:

Bị cáo L có nhân thân tốt thể hiện ở việc không có tiền án, tiền sự. Bị cáo Q có nhân thân rất xấu thể hiện việc đã nhiều lần bị xử phạt tù về tội “Trộm cắp tài sản”, bị xử phạt hành chính về hành vi xâm hại sức khỏe của người khác. Lần phạm tội này của bị cáo Q đã thể hiện sự không hướng thiện của bản thân cũng như việc chấp hành pháp luật.

Đối với bị cáo C năm 2010 phạm tội “Cướp giật tài sản” và bị xử phạt 02 năm tù giam, thời điểm phạm tội bị cáo chưa đủ 17 tuổi nhận thức pháp luật còn hạn chế. Nay tiếp tục phạm tội Hội đồng xét xử cũng xem xét việc chấp hành pháp luật cũng như tính hướng thiện của bị cáo để có mức hình phạt phù hợp.

[6] Về tính chất mức độ tội phạm:

Bị cáo C, L phạm tội thuộc trường hợp ít nghiêm trọng do có khung hình phạt đến 03 năm tù.

Bị cáo Q phạm tội thuộc trường hợp nghiêm trọng do có khung hình phạt đến 07 năm tù.

Các bị cáo là người có năng lực trách nhiệm hình sự thực hiện tội phạm một cách cố ý. Hành vi phạm tội của các bị cáo thực hiện là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến tài sản hợp pháp của bị hại Nguyễn Xuân T trong vụ án được pháp luật bảo vệ mà còn ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự trị an tại địa phương.Vì vậy, cần xử phạt các bị cáo mức hình phạt tương xứng với tính chất mức độ tội phạm đã thực hiện đủ để giáo dục, cải tạo các bị cáo cũng như có tác dụng đấu tranh phòng ngừa chung.

[7] Trong vụ án có đồng phạm, nhưng không phải là phạm tội có tổ chức, trong vụ án bị cáo Q là người khởi xướng, bị cáo C chuẩn bị đoản bẻ khóa xe, bị cáo L là người bẻ khoá xe. Bị cáo Q phạm tội trường hợp tái phạm nguy hiểm. Do vậy, mức hình phạt bị cáo Q phải cao hơn so với C, L, mức hình phạt bị cáo C cao hơn so với L

[8] Về trách nhiệm dân sự: Bị hại Nguyễn Xuân T đã nhận lại tài sản bị chiếm đoạt và không có yêu cầu bồi thường gì khác. Hội đồng xét xử không xét.

[9] Về vật chứng: Đối với xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave A, số khung RLHJA3927MY127245, số máy: JA39E2244579, màu xanh - đen-bạc, biển số 38B1 – 258.52 của bị cáo Phan Trọng Q; 03 điện thoại di động cùng nhãn hiệu Nokia 105 màu đen. Các bị cáo sử dụng vào việc phạm tội, tài sản trên cần tịch thu sung vào ngân sách nhà nước

Đối với xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Exciter, màu đen – bạc, số khung RLCUG1220NY017605; số máy G3M5E139368, biển số 38B1 – 273.88 thuộc sở hữu của chị Nguyễn Thị H và bị cáo Võ Quốc C. Bị cáo C sử dụng vào việc phạm tội. Do vậy, cần tịch thu sung vào ngân sách nhà nước 1/2 giá trị xe trên trả lại cho chị H ½ giá trị xe còn lại.

Đối với 03 sim điện thoại của các bị cáo sử dụng vào việc phạm tội, cần tịch thu tiêu hủy.

[10] Đối với quan điểm của đại diện Viện kiểm sát thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương đưa ra tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân, việc xử lý vật chứng cũng như mức hình phạt đối với bị cáo L phù hợp với quan điểm của Hội đồng xét xử do vậy được chấp nhận. Riêng đối với mức hình phạt bị cáo Q, C đại diện Viện kiểm sát đưa ra là nghiêm khắc. Hội đồng xét xử xử mức hình phạt bị cáo Q, C thấp hơn mức hình phạt đại diện

[11] Án phí sơ thẩm: Bị cáo Q, L và C phải nộp án phí Hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố các bị cáo Phan Trọng Q, Võ Quốc C, Phạm Văn L phạm tội “Trộm cắp tài sản” (chưa đạt)

1.1 Căn cứ vào điểm g khoản 2 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 15 và Điều 58 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017

Xử phạt bị cáo Phan Trọng Q 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù.

1.2 Căn cứ vào khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1, 2 Điều 51, Điều 15 và Điều 58 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Xử phạt bị cáo Phạm Văn L 01 (một) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày bị tạm giữ, bắt tạm giam 28/2/2021.

1.3 Căn cứ vào khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1 Điều 51, Điều 15 và Điều 58 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017

Xử phạt bị cáo Võ Quốc C 01 (một) năm 04 (bốn) tháng tù.

Thời hạn tù đối với bị cáo Q, L và C tính từ ngày bị tạm giữ, bắt tạm giam 27/3/2022.

2. Các biện pháp tư pháp.

Về vật chứng: Căn cứ Điều 46, điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. Điều 89, điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.

Tịch thu sung ngân sách nhà nước:

+Xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave A, số khung RLHJA3927MY127245, số máy JA39E2244579, màu xanh - đen -bạc, biển số 38B1 – 258.52

+ 1/2 giá trị xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Exciter, màu đen – bạc, số khung: RLCUG1220NY017605; số máy G3M5E139368, biển số 38B1 – 273.88.

+ 03 điện thoại di động cùng nhãn hiệu Nokia 105 màu đen.

+ Trả lại chị Nguyễn Thị H trị giá 1/2 giá trị xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Exciter, màu đen – bạc, số khung: RLCUG1220NY017605; số máy G3M5E139368, biển số 38B1 – 273.88.

(Giá trị xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Exciter, màu đen – bạc, số khung RLCUG1220NY017605; số máy G3M5E139368, biển số 38B1 – 273.88 có giá trị khi định giá 42.000.000 đồng (bốn mươi hai triệu đồng).

Tịch thu tiêu hủy: 02 (hai) cây đoản hình chữ T bằng kim loại; các sim số 0922.787.868; 0973.049.799; 0356.892.232.

Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 13/7/2022 tại Chi cục Thi hành án thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương.

3. Về án phí: Căn cứ Điều 135, 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án ngày 30/12/2016 của Ủy Ban thường vụ Quốc Hội khoá 14

Bị cáo Phan Trọng Q, Phạm Văn L, Võ Quốc C mỗi bị cáo phải nộp 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) tiền án phí Hình sự sơ thẩm.

Các bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Cỡ chữ