- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Vụ án tranh chấp ly hôn"
- Tòa quyết gì? Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Lê Thị H, cụ thể:
- Căn cứ chính? Điều 51 Luật Hôn nhân và Gia đình xử; Điều 127 Luật Hôn nhân và Gia đình xử; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 255/2022/HNGĐ-ST Ngày 19-12-2022 V/v ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Vũ Thị Thu Hà
Các Hội thẩm nhân dân:
Bà Vũ Thị Minh Nguyệt
Ông Đặng Huy Du
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Hà Phương - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Hải Phòng tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Hoàng Hải - Kiểm sát viên.
Ngày 19 tháng 12 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòngxét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 242/2022/TLST-HNGĐ ngày 04 tháng 10 năm 2022 về ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 236/2022/QĐXXST-HNGĐ ngày 15 tháng 11 năm 2022 và Quyết định hoãn phiên tòa số 108/2022/QĐST-HNGĐ ngày 01 tháng 12 năm 2022, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Lê Thị H, sinh năm 1990; cư trú tại: Khu Quyết Hùng, thị trấn Minh Đức, huyện Thủy Nguyên, thành phố Hải Phòng.
- Bị đơn: Anh Bùi Ngọc T, sinh năm 1983; ĐKHKTT: Khu Quyết Hùng, thị trấn Minh Đức, huyện Thủy Nguyên, thành phố Hải Phòng; hiện đang cư trú tại H Kông, Trung Quốc.
Chị Lê Thị H vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt; anh Bùi Ngọc T vắng mặt, không có lý do.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện và bản tự khai, trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn là chị Lê Thị H trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Chị Lê Thị H và anh Bùi Ngọc T kết hôn trên cơ sở tự nguyện, được sự đồng ý của hai bên gia đình, có tổ chức lễ cưới theo P tục tập quán của địa phương và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân thị trấn Minh Đức, huyện Thủy Nguyên, thành phố Hải Phòng vào ngày 23/12/2013. Sau khi kết hôn vợ cH chung sống hạnh phúc được 02 năm đầu thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân do bất đồng quan điểm sống, tính cách không hợp, thường xuyên xảy ra cãi vã. Do mâu thuẫn căng thẳng nên đầu năm 2021, chị H và anh T đã sống ly thân, không còn quan tâm đến nhau về tình cảm cũng như kinh tế. Khoảng tháng 4 năm 2021, anh T sang Trung Quốc để lao động. Chị H hiện không liên lạc với anh T nên không thể biết được địa chỉ của anh T tại Trung Quốc để cung cấp cho Tòa án. Nay xét thấy tình cảm vợ cH không còn, chị H đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Bùi Ngọc T.
Về con chung: Chị H và anh T có 01 con chung tên là Bùi Ngọc Chấn P, sinh ngày 04 tháng 3 năm 2014, đang ở với chị H. Khi ly hôn chị H có nguyện vọng được nuôi con. Về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con, chị H không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về tài sản chung: Chị H và anh T không có tài sản chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Đối với bị đơn là anh Bùi Ngọc T trong quá trình giải quyết vụ án:
Theo Công văn số23119/QLXNC-P5 ngày 02/11/2022của Cục Quản lý Xuất nhập cảnh - Bộ Công an, anh Bùi Ngọc T, sinh năm 1983 không có thông tin cấp hộ chiếu, xuất nhập cảnh tại Cục Quản lý xuất nhập cảnh.
Tại Biên bản xác minh ngày 14/10/2022, ông Bùi Văn Ng, tổ trưởng khu dân cư Quyết Hùng, thị trấn Minh Đức, huyện Thủy Nguyên, thành phố Hải Phòng cung cấp thông tin: Anh Bùi Ngọc T, sinh năm 1983 hiện nay có đăng ký hộ khẩu thường trú tại Khu Quyết Hùng, thị trấn Minh Đức, huyện Thủy Nguyên, thành phố Hải Phòng nhưng từ tháng 4/2021 đến nay đã đi sang H Kông, Trung Quốc để lao động, không có mặt tại địa phương.
Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng đã tiến hành tống đạt thông báo thụ lý vụ án cho bà Bùi Thị Đ là mẹ đẻ của anh Bùi Ngọc T. Tại Biên bản lấy lời khai ngày 07/10/2022, bà Đ trình bày: Anh T và chị Lê Thị H kết hôn do tự nguyện tìm hiểu, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân thị trấn Minh Đức, huyện Thủy Nguyên, thành phố Hải Phòng ngày 23/12/2013. Sau khi kết hôn anh T và chị H chung sống hạnh phúc được khoảng 02 năm đầu thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân do tính cách không hợp, bất đồng quan điểm sống. Đến khoảng tháng 4/2021 thì anh T đi lao động ở Trung Quốc, đi bằng đường bộ, không qua quản lý xuất nhập cảnh. Anh T và chị H cũng đã sống ly thân từ đó đến nay. Bà Đ đã thông báo cho anh T biết việc chị H xin ly hôn anh T tại Tòa án. Quan điểm của anh T là đồng ý ly hôn. Gia đình không có ý kiến gì nếu như chị H và anh T muốn ly hôn. Về con chung: Anh T và chị H có 01 con chung tên là Bùi Ngọc Chấn P, sinh ngày 04 tháng 3 năm 2014, hiện đang ở với chị H, do anh T không có mặt ở nhà nên đồng ý giao con chung cho chị H nuôi, nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con hai bên tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.Về tài sản chung: Anh T và chị H không có tài sản chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết. Về địa chỉ nơi cư trú của anh T: Gia đình không nắm rõ được địa chỉ anh T ở Trung Quốc nhưng vẫn liên lạc được với anh T qua điện thoại, gọi hình ảnh và mạng xã hội, thường xuyên trao đổi với anh T về các nội dung Tòa án thông báo nên anh T đã cung cấp các quan điểm như trên. Địa chỉ cuối cùng trước khi anh T trước khi đi Trung Quốc là: Khu Quyết Hùng, thị trấn Minh Đức, huyện Thủy Nguyên, thành phố Hải Phòng.
Do chị Lê Thị H đề nghị không tiến hành hòa giải theo quy định tại khoản 4 Điều 207 của Bộ luật Tố tụng dân sự nên Tòa án không tiến hành hòa giải vụ án được.
Tại phiên tòa, chị Lê Thị H và anh Bùi Ngọc T vắng mặt, Chủ tọa phiên tòa đã công bố lý do đương sự vắng mặt, công bố tóm tắt nội dung vụ án và tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án thể hiện quan điểm giải quyết vụ án của các đương sự.
Phát biểu của đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Hải Phòng về việc giải quyết vụ án:
- Trong quá trình giải quyết vụ án, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký đã chấp hành đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Nguyên đơn đã thực hiện đúng các quy định về quyền và nghĩa vụ của mình.
- Về quan điểm giải quyết vụ án:
Chị Lê Thị H và anh Bùi Ngọc T kết hôn trên cơ sở tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân thị trấn Minh Đức, huyện Thủy Nguyên, thành phố Hải Phòng ngày 23/12/2013. Sau khi kết hôn vợ cH chung sống hạnh phúc được 02 năm đầu thì phát sinh mâu thuẫn, năm 2021 anh T sang Trung Quốc lao động.Vợ cH sống ly thân từ đó đến nay, không còn quan hệ gì về mặt tình cảm và kinh tế. Xét thấy: Hôn nhân giữa chị H và anh T đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó, cần áp dụng khoản 1 Điều 19, khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị H.
Về con chung: Anh, chị có 01 con chung tên là Bùi Ngọc Chấn P, sinh ngày 04 tháng 3 năm 2014, hiện cháu P đang ở với chị H, khi ly hôn chị H đề nghị được nuôi con chung và không yêu cầu cấp dưỡng. Xét thấy: Cháu P từ trước đến nay vẫn ở cùng mẹ, anh T mặc dù biết chị H xin ly hôn nhưng không có quan điểm gì về vấn đề hôn nhân và con chung, cháu P cũng có nguyện vọng được ở với mẹ, do đó cần tiếp tục giao cháu P cho chị H nuôi dưỡng đến khi cháu đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật. Về tài sản chung: Anh chị không có tài sản chung không yêu cầu nên không xem xét giải quyết.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
- Về thủ tục tố tụng:
[1] Về thẩm quyền giải quyết: Chị Lê Thị H có địa chỉ tại Hải Phòng xin ly hôn anh Bùi Ngọc T hiện đang cư trú tại Trung Quốc. Theo quy định tại khoản 3 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 37, điểm b khoản 1 Điều 39, Điều 469, Điều 470 của Bộ luật Tố tụng dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng.
Về sự vắng mặt của đương sự: Nguyên đơn là chị Lê Thị H và bị đơn là anh Bùi Ngọc T cùng vắng mặt tại phiên tòa, chị H có đơn đề nghị xét xử vắng mặt còn anh T vắng mặt không có lý do nhưng đã được Tòa án tống đạt, niêm yết các văn bản tố tụng theo đúng quy định pháp luật. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227 và khoản 1, khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Toà án nhân dân thành phố Hải Phòng tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn và bị đơn.
- Về nội dung:
Về quan hệ hôn nhân: Theo lời khai của chị Lê Thị H và tài liệu có trong hồ sơ thể hiện, anh chị có kết hôn và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân thị trấn Minh Đức, huyện Thủy Nguyên, thành phố Hải Phòng ngày 23/12/2013, đây là hôn nhân hợp pháp theo quy định tại Điều 11 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2000. Sau khi kết hôn anh chị chung sống hạnh phúc được khoảng 02 năm đầu thì xảy ra mâu thuẫn, , không thể khắc phục được. Anh chị sống ly thân từ năm 2021 đến nay, không quan tâm đến nhau về tình cảm cũng như kinh tế. Do đó, có cơ sở xác định cuộc sống chung giữa chị Lê Thị H và anh Bùi Ngọc T không hạnh phúc, không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên cần áp dụng Điều 51, Điều 56, Điều 127 của Luật Hôn nhân và Gia đình xử cho chị H được ly hôn anh Bùi Ngọc T.
Về con chung: Chị Lê Thị H và anh Bùi Ngọc T có một con chung tên là Bùi Ngọc Chấn P, sinh ngày 04 tháng 3 năm 2014, hiện đang ở với chị H, anh T không có mặt tại Việt Nam. Chị H đề nghị được nuôi con và không yêu cầu Tòa án giải quyết việc cấp dưỡng nuôi con, phù hợp với nguyện vọng của cháu P và đại diện gia đình anh T nên cần áp dụng Điều 81, 82, 83 của Luật Hôn nhân và Gia đình giao con Bùi Ngọc Chấn P cho chị H trực tiếp nuôi cho đến khi con đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật. Nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chị H và anh T không yêu cầu nên Hội đồng xét xử tạm thời không xem xét giải quyết.
Về tài sản chung: Chị Lê Thị H và anh Bùi Ngọc T không có tài sản chung, không yêu cầunên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
- Về án phí ly hôn sơ thẩm:
Chị Lê Thị H là nguyên đơnphải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
- Về quyền kháng cáo của các đương sự:
Chị Lê Thị H và anh Bùi Ngọc T được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 37, điểm c khoản 1 Điều 40, khoản 4 Điều 147, khoản 4 Điều 207, khoản 1 Điều 227, khoản 1 Điều 228, Điều 266, Điều 273, điểm d khoản 1 Điều 469, khoản 2 Điều 479 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 127 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014;
Căn cứ điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án,
Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Lê Thị H, cụ thể:
1. Về quan hệ hôn nhân: Chị Lê Thị H được ly hôn anh Bùi Ngọc T.
2. Về con chung: Giao con chung tên là Bùi Ngọc Chấn P, sinh ngày 04 tháng 3 năm 2014 cho chị Lê Thị H trực tiếp nuôi cho đến khi con đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật. Việc cấp dưỡng nuôi con, chị Lê Thị H không yêu cầu, nên tạm thời Tòa án không giải quyết.
Cha, mẹ trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.
3. Về tài sản chung: Chị Lê Thị H và anh Bùi Ngọc T không yêu cầu, nên Tòa án không giải quyết.
4. Về án phí: Chị Lê Thị H phải nộp 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0000817 ngày 04/10/2022 tại Cục Thi hành án dân sự thành phố Hải Phòng.Chị H đã nộp đủ án phí ly hôn sơ thẩm.
5. Về quyền kháng cáo của các đương sự:
Chị Lê Thị H được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ.
Anh Bùi Ngọc T được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 01 tháng kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án Dân sự thì người được thi hành, người phải thi hành án có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - VKSND TP Hải Phòng; - Cục THADS TP Hải Phòng; - UBND thị trấn Minh Đức, Thủy Nguyên, Hải Phòng (ĐKKH ngày 23/12/2013); - Đương sự; - Lưu: Hồ sơ, HCTP. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Vũ Thị Thu Hà |