vanban.org

Bản án 255/2019/HS-PT — Hình sự

TAND tỉnh Nghệ An Tuyên án 08/11/2019 Hình sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 08/11/2019 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Không chấp nhận kháng cáo của Trương Mạnh H về tăng hình phạt; giữ nguyên phần quyết định hình phạt của bản án sơ thẩm.

Chấp nhận kháng cáo của anh Trương Mạnh H về tăng mức bồi thường dân sự; Sửa án sơ thẩm phần phần bồi thường dân sự. Giao bị cáo về cho Ủy ban nhân dân xã C, huyện Q, tỉnh Nghệ An giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì phải thông báo bằng văn bản cho … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Lang Văn T phạm tội "Cố ý gây thương tích" - phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác (điều 134 Luật sửa đ…"
  • Tòa quyết gì? Không chấp nhận kháng cáo của Trương Mạnh H về tăng hình phạt; giữ nguyên phần quyết định hình phạt của bản án sơ thẩm.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 355 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH NGHỆ AN
–––––––––––––––

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số:255/2019/HS-PT
Ngày: 08 - 11 - 2019

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Hồng Trang

Các Thẩm phán:

Bà Nguyễn Thị Hải Minh

Bà Thái Thị Hồng Vân

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Hoàng Anh – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Mai Hoa - Kiểm sát viên.

Ngày 08 tháng 11 năm 2019, tại Trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 233/2019/TLPT-HS ngày 18 tháng 9 năm 2019 đối với bị cáo Lang Văn T, do có kháng cáo của người bị hại anh Trương Mạnh H đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 37/2019/HS-ST ngày 30 tháng 7 năm 2019 của Tòa án nhân dân huyện Q, tỉnh Nghệ An.

- Bị cáo bị kháng cáo:

Họ và tên: Lang Văn T; tên gọi khác: Không; Sinh năm: 1992 tại huyện Q, tỉnh Nghệ An. Nơi cư trú: Bản Đ, xã C, huyện Q, tỉnh Nghệ An; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: Lớp 11/12; Dân tộc: Thái; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Lang Văn Th và bà Lê Thị H; Có vợ là: Lang Thị Tr và 02 con; Tiền án, tiền sự: Chưa có; Hiện đang tại ngoại; Có mặt.

- Người bị hại kháng cáo:

Anh Trương Mạnh H. Sinh năm: 1990. Trú tại: Bản T, xã C, huyện Q, tỉnh Nghệ An. Có mặt

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 13 giờ ngày 19/02/2019, anh Vi Văn S rủ anh Trương Mạnh H đi đến khu vực bản Đ, xã C để tìm chủ sở hữu của một số con bò ăn lúa của nhà anh S. Khi đi đến nhà bà Lang Thị K thì gặp Lang Văn T (cháu nội của bà K) nên T đã mời anh S và anh H vào nhà uống rượu cùng. Tại nhà bà K thì anh S ngồi uống rượu cần cùng với bố đẻ và các chú của Lang Văn T, còn anh H ngồi mâm ăn cơm uống rượu cùng với Lang Văn T và anh Lang Văn D. Trong lúc ăn uống thì anh H ăn trầu và khạc nhổ lung tung. Mọi người có nhắc nhở anh H nhưng không được nên T có mời anh H chén rượu để góp ý. Anh H từ chối uống rượu với T và lại có những lời nói thiếu tôn trọng gia đình T. Thấy vậy, T hất chén rượu vào mặt và dùng tay phải đấm một cái vào mặt anh H khiến anh H ngã ra sàn nhà. Sau đó thì được mọi người can ngăn nên T dưng lại còn anh H thì bỏ về nhà và được gia đình đưa đi cấp cứu và điều trị tại Bệnh viện đa khoa khu vực Tây Bắc Nghệ An.

Tại bản tóm tắt hồ sơ bệnh án của anh Trương Mạnh H, lập ngày 14/3/2019 của Bệnh viện đa khoa khu vực Tây Bắc Nghệ An thể hiện: Tụ máu quanh mắt trái, hình ảnh gãy cung tiếp trái và thành trước xoang hàm trái.

Tại bản kết luận giám định pháp y về thương tích số 67/TTPY ngày 19/3/2019 của Trung tâm pháp y, Sở y tế tỉnh Nghệ An kết luận: Tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên tại thời điểm giám định là 22%.

Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 37/2019/HSST ngày 30/7/2019, Tòa án nhân dân huyện Q, tỉnh Nghệ An quyết định:

Áp dụng khoản 1 Điều 134; các điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật hình sự. Xử phạt Lang Văn T 02 (Hai) năm tù cho hưởng án treo về tội “Cố ý gây thương tích”, thời gian thử thách là 48 (Bốn mươi tám) tháng, thời hạn thử thách tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Giao bị cáo về cho Ủy ban nhân dân xã C, huyện Q, tỉnh Nghệ An giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì phải thông báo bằng văn bản cho Tòa án nhân dân huyện Q, tỉnh Nghệ An biết.

Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phát chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ Điều 48 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự, Điều 584, 590 Bộ luật dân sự. Buộc Lang Văn T phải có nghĩa vụ bồi thường tiếp cho anh Trương Mạnh H số tiền 28.800.000đ (Hai mươi tám triệu, tám trăm nghìn đồng). Ngoài ra bản án sơ thẩm còn tuyên quyền kháng cáo.

Ngày 07/8/2019, anh Trương Mạnh H làm đơn kháng cáo với nội dung: Đề nghị tăng hình phạt đối với bị cáo, không cho bị cáo được hưởng án treo và tăng bồi thường dân sự.

Tại phiên tòa hôm nay, anh Trương Mạnh H vẫn giữ nguyên nội dung kháng cáo.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An đề nghị Hội đồng xét xử:

Đối với kháng cáo của anh Trương Mạnh H về việc không cho bị cáo được hưởng án treo: Hành vi của bị cáo là nhất thời phạm tội, nhân thân tốt, có nơi cư trú rõ ràng, phạm tội ít nghiêm trọng, bồi thường được một phần thiệt hại cho bị hại nên Tòa án cấp sơ thẩm xử phạt bị cáo 2 năm tù cho hưởng án treo, về tội “Cố ý gây thương tích” là phù hợp với tính chất và hành vi phạm tội của bị cáo, nên đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của bị hại về phần hình phạt.

Đối với kháng cáo tăng mức bồi thường dân sự: Tòa án cấp sơ thẩm căn cứ vào các tài liệu về các khoản chi phí hợp lý cho việc khám chữa bệnh, chi phí chăm sóc, tổn thất về tinh thần với tổng số tiền là 42.200.000 đồng là có căn cứ. Bị hại kháng cáo nhưng không xuất trình các tài liệu mới nên không có căn cứ xem xét tăng mức bồi thường cho người bị hại. Nhưng trong vụ án này, nguyên nhân là do trong lúc ngồi uống rượu thì giữa bị cáo và bị hại có mâu thuẫn với nhau, nguyên nhân một phần là do bị hại có ăn trầu và nhổ không đúng nơi làm mọi người khó chịu, nhưng chưa đến mức có lỗi phải tự chịu một phần về bồi thường trách nhiệm dân sự, Tòa án cấp sơ thẩm buộc bị hại phải tự chịu một phần lỗi với số tiền là 8.400.000 đồng là chưa đúng. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử sửa án sơ thẩm về phần dân sự, buộc bị cáo phải có trách nhiệm bồi thường toàn bộ các chi phí chăm sóc và tiền tổn thất về sức khỏe cho bị hại với số tiền 42.200.000 đồng.

Đề nghị Áp dụng điểm a, b khoản 1 Điều 355; điểm b khoản 2 Điều 357 Bộ luật tố tụng hình sự 2015.

Không chấp nhận kháng cáo của anh Trương Mạnh H về việc không cho bị cáo được hưởng án treo, giữ nguyên phần quyết định về hình phạt của Bản án sơ thẩm; Sửa án sơ thẩm về phần trách nhiệm dân sự, buộc bị cáo Trương Văn T phải bồi thường cho Trương Mạnh H số tiền 42.200.000 đồng, đã bồi thường được 5.000.000 đồng, buộc bị cáo phải tiếp tục bồi thường số tiền 37.200.000 đồng.

Người bị hại tranh luận: Anh Trương Mạnh H không tranh luận với đề nghị của Kiểm sát viên.

Bị cáo Lang Văn T không tranh luận với quan điểm của Kiểm sát viên, đồng ý bồi thường cho bị hại và xin Hội đồng xét xử giữ nguyên Bản án sơ thẩm về phần hình phạt đối với bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về tính hợp pháp của đơn kháng cáo: Kháng cáo của anh Trương Mạnh H làm trong hạn luật định là hợp lệ nên được xem xét theo trình tự xét xử phúc thẩm.

Xét hành vi phạm tội của bị cáo Lang Văn T thấy:

Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án nên có đủ căn cứ để xác định: Vào khoảng 13 giờ 30 phút ngày 19/02/2019, tại nhà bà Lang Thị K thuộc bản Đ, xã C, huyện Q, do bực tức với hành vi và lời nói của anh H nên Lang Văn T đã có hành vi dùng tay đánh vào mặt anh Trương Mạnh H. Do bị đánh nên anh H bị gãy xương gò má trái và có tỷ lệ thương tích là 22%. Như vậy, hành vi phạm tội của bị cáo Lang Văn T đã bị Tòa cấp sơ thẩm xử phạt 2 (hai) năm tù, cho hưởng án treo về tội “Cố ý gây thương tích” theo khoản 1 Điều 134 Bộ luật hình sự là có căn cứ pháp luật, đúng người, đúng tội.

Xét nội dung kháng cáo tăng hình phạt và tăng bồi thường của anh Trương Mạnh H thấy:

Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, không những đã trực tiếp xâm phạm đến sức khỏe của người khác được pháp luật bảo vệ mà còn gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự tại địa phương, hoang mang, bất bình bình trong quần chúng nhân dân. Tòa án cấp sơ thẩm đã xem xét đầy đủ tính chất của hành vi phạm tội, nhân thân, các tình tiết tăng nặng giảm nhẹ và xử phạt bị cáo Lang Văn T 2 (hai) năm tù cho hưởng án treo là nghiêm minh. Tại cấp phúc thẩm, bị hại Trương Mạnh H không xuất trình được các căn cứ để Hội đồng xét xử xem xét tăng hình phạt đối với bị cáo. Vì vậy không có cơ sở để chấp nhận kháng cáo tăng hình phạt đối với bị cáo của bị hại, giữ nguyên Bản án sơ thẩm.

Đối với kháng cáo buộc Lang Văn T bồi thường số tiền 71.550.000 đồng, Hội đồng xét xử thấy rằng, Tòa án cấp sơ thẩm căn cứ vào các tài liệu và các khoản chi phí hợp lý cho việc khám chữa bệnh, chi phí chăm sóc, tổn thất về tinh thần với tổng số tiền 42.200.000 đồng là có căn cứ. Tại cấp phúc thẩm, bị hại không đưa ra được tài liệu mới chứng minh đề nghị tăng mức bồi thường nên Hội đồng xét xử không có cơ sở để xem xét.

Nhưng xét thấy, mặc dù nguyên nhân dẫn đến hành vi phạm tội của bị cáo là do bị hại có ăn trầu và nhổ không đúng nơi làm mọi người khó chịu, nhưng lỗi đó chưa đến mức phải tự chịu một phần về bồi thường dân sự. Tòa án cấp sơ thẩm buộc bị hại phải tự chịu một phần thiệt hại với số tiền là 8.400.000 đồng là chưa đúng. Do đó, cần sửa án sơ thẩm về phần dân sự, buộc bị cáo phải có trách nhiệm bồi thường toàn bộ các chi phí chăm sóc và tiền tổn thất về sức khỏe cho bị hại với số tiền 42.200.000 đồng là phù hợp với hành vi và tính chất của vụ án. Bị cáo Lang Văn T đã bồi thường được 5.000.000 đồng, nay buộc bị cáo phải tiếp tục bồi thường cho anh Trương Mạnh H số tiền 37.200.000 đồng.

Về án phí: Gia đình bị cáo thuộc diện hộ nghèo, hiện nay đang sinh sống tại vùng dân tộc thiểu số và đặc biệt khó khăn. Cần căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Quốc hội khóa 14 và Quyết định số 582/QĐ-TTG ngày 28/4/2017 của Thủ tướng chính phủ, miễn toàn bộ tiền án dân sư sơ thẩm cho bị cáo.

Bị hại không phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Các quyết định khác không có kháng cáo kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ điểm a, b khoản 1 Điều 355; điểm b khoản 2 Điều 357 Bộ luật tố tụng hình sự.

Không chấp nhận kháng cáo của Trương Mạnh H về tăng hình phạt; giữ nguyên phần quyết định hình phạt của bản án sơ thẩm.

Chấp nhận kháng cáo của anh Trương Mạnh H về tăng mức bồi thường dân sự; Sửa án sơ thẩm phần phần bồi thường dân sự.

2. Áp dụng khoản 1 Điều 134; các điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật hình sự. Xử phạt Lang Văn T 02 (Hai) năm tù cho hưởng án treo về tội “Cố ý gây thương tích”, thời gian thử thách là 48 (Bốn mươi tám) tháng, thời hạn thử thách tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Giao bị cáo về cho Ủy ban nhân dân xã C, huyện Q, tỉnh Nghệ An giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì phải thông báo bằng văn bản cho Tòa án nhân dân huyện Q, tỉnh Nghệ An biết.

Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

3. Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ Điều 48 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự, Điều 584, 590 Bộ luật dân sự.

Buộc bị cáo Lang Văn T bồi thường cho anh Trương Mạnh H số tiền 37.200.000 đồng (ba mươi bảy triệu hai trăm nghìn đồng).

Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án sau khi bản án có hiệu lực pháp luật (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, quyền tự nguyện thi hành án, hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại điều 6, điều 7 và điều 9 Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự.

4. Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự, Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Bị cáo Lang Văn T không chịu án phí hình sự phúc thẩm và án phí dân sự. Người bị hại không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

5. Các quyết định khác không có kháng cáo kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ