vanban.org

Bản án 255/2019/HS-PT — Hình sự

TAND tỉnh Đắk Lắk Tuyên án 23/08/2019 Hình sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 23/08/2019 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Văn C phạm tội Cưỡng đoạt tài sản - phạm tội cưỡng đoạt tài sản (điều 170 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 65 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH ĐẮK LẮK

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 255/2019/HS-PT
Ngày 23 - 8 - 2019.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨAVIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐẮK LẮK

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Tấn Đức

Các Thẩm phán:

Ông Hoàng Kim Khánh

Bà Lưu Thị Thu Hường

- Thư ký phiên tòa: Ông Dương Công Bình – h

Toà án nhân dân tỉnh Đắ Lắ .

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đắk Lắk tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thanh Tâm - Chức vụ: Kiểm sát viên.

Ngày 23 tháng 8 năm 2019, tại trụ sở òa án nhân dân tỉnh Đắ Lắ xét xử công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ l số: 250/2019/TLPT-HS ngày 25 tháng 7 năm 2019 đối với bị cáo Nguyễn Văn C phạm tội “C ỡng đoạt tài sản”. Do có kháng nghị của Viện iểm sát nhân dân tỉnh Đắ Lắ đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 43/2019/HSST ngày 17/6/2019 của òa án nhân dân huyện EaH'leo, tỉnh Đắk Lắk.

Bị cáo bị kháng nghị:

Họ và tên: Nguyễn Văn C; Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam; Sinh năm 1995, tại: Tỉnh Ninh Bình; nơi đăng HK : Xóm 11, xã C, huyện K, tỉnh Ninh Bình; nơi th ờng trú: Thôn C, xã I, huyện C, tỉnh Gia Lai; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Công giáo; trình độ học vấn: 7/12; nghề nghiệp: Làm nông; con ông Nguyễn Văn Đ, con bà Đỗ Thị S, có vợ: Phạm Thị Thu H và có 01 con sinh năm 2019; tiền án, tiền sự: Không; bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 27/01/2019 đến ngày 30/01/2019 đ ợc tại ngoại. Có mặt tại phiên tòa.

Người bị hại: Bà Võ Thị K, sinh năm 1973; Nơi c trú: Buôn T, xã E,

huyện E, tỉnh Đắk Lắk (Vắng mặt).

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

- Anh Nguyễn Văn C1, sinh năm 1984; Nơi c trú: Thôn C, xã I,

huyện C, tỉnh Gia Lai (Có mặt).

- Bà Phạm Thị D, sinh năm 1990; Nơi c trú: Thôn C, xã I, huyện C,

tỉnh Gia Lai (Có mặt).

- Bà Nguyễn Thị G, sinh năm 1975; Nơi c trú: Buôn T, xã E, huyện

E, tỉnh Đắk Lắk (Vắng mặt).

NỘI DUNG V ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án đ ợc tóm tắt nh sau:

Vào khoảng tháng 4 năm 2018, bà Võ hị K vay của Nguyễn Văn C1 số tiền 30.000.000 đồng và vay của Nguyễn Văn C 20.000.000 đồng nh ng đến hạn trả nợ, mặc dù C và C1 đã đòi nhiều lần nh ng bà K không trả. Đến khoảng 10 giờ 30 phút ngày 22/01/2019, C rủ C1 đi đến nhà bà K để đòi nợ, C điều khiển xe mô tô hiệu Nouvo, biển kiểm soát 47E1 - 193.29, chở C1 đi đến nhà rẫy của bà K ở Buôn T, xã E, huyện E. Tại đây, C1 đứng ngoài sân, còn C vào nhà rẫy nói bà K trả nợ, nh ng bà K nói không có tiền, nên C dùng tay tát 2 cái vào mặt bà K và yêu cầu trả tiền, bà K tiếp tục nói ch a có, thì C đi xuống bếp lấy 01 con dao đi lên và nói với bà K: “Cô điện ng ời nhà mang tiền đến trả nếu không có thì cháu sẽ chặt tay mang về”, rồi C vứt bỏ dao xuống nền nhà. Thấy vậy, bà K đi vào trong phòng ngủ khoảng 30 phút sau đi ra và nói chỉ có số tiền 1.700.000 đồng, rồi đ a cho C, C nói ít và yêu cầu bà K vào nhà lấy thêm tiền để trả. Bà K nói chỉ còn số tiền này thôi để bà K đi m ợn tiền của bạn thì C đồng . Sau đó, bà K điều khiển xe mô tô đi tr ớc còn C điều khiển xe mô tô chở C1 đi theo sau, hi đến nhà bà Nguyễn Thị G, ở Buôn T, xã E, thì bà K hỏi m ợn tiền nh ng bà G hẹn chiều mới có. Bà K đi ra và nói với C là 17 giờ chiều mới có tiền, thì C và C1 đi uống cà phê. Đến khoảng 17 giờ ngày 22/01/2019, C gọi điện thoại cho bà K hỏi đã có tiền ch a, thì bà K nói đến nhà bà G để đ a tiền. Tại đây, bà K đ a cho C1 số tiền 3.000.000 đồng. Sau đó, bà K viết đơn trình báo Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Ea H’Leo.

ại bản án hình sự sơ thẩm số 43/2019/HSST ngày 17/6/2019 của òa án nhân dân huyện EaH'leo, tỉnh Đắk Lắk đã quyết định:

Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn C phạm tội "C ỡng đoạt tài sản".

Áp dụng khoản 1 Điều 170; các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 và khoản 1, khoản 2 Điều 65 Bộ luật Hình sự.

- Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn C 01 năm 03 tháng tù, nh ng cho h ởng án treo. Thời gian thử thách là 02 năm 06 tháng tính từ ngày tuyên án.

Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm còn xử lý vật chứng, trách nhiệm dân sự, về án phí và quyền háng cáo theo quy định của pháp luật.

Ngày 11/7/2019, Viện iểm sát nhân tỉnh Đắ Lắ có Quyết định háng nghị phúc thẩm số 20/QĐ-VKS-P7 với nội dung: Kháng nghị toàn bộ bản án hình sự sơ thẩm số 43/2019/HSST ngày 17/6/2019 của òa án nhân dân huyện EaH'leo, tỉnh Đắk Lắk. Đề nghị òa án nhân dân tỉnh Đắ Lắ xét xử vụ án theo thủ tục phúc thẩm, theo h ớng hủy toàn bộ bản án nêu trên để điều tra, xét xử lại theo thủ tục chung.

Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo Nguyễn Văn C khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình nh nội dung Bản cáo trạng và Bản án hình sự sơ thẩm cũng nh lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, tại phiên tòa sơ thẩm.

Tại phiên tòa phúc thẩm, sau hi phân tích, đánh gia toàn bộ các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đắk Lắ xác định Tòa án cấp sơ thẩm xét xử bị cáo Nguyễn Văn C về tội: “C ỡng đoạt tài sản” theo khoản 1 Điều 170 Bộ luật hình sự là hông đúng về việc xác định tội danh của bị cáo. Hành vi của bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội "C ớp tài sản" theo Điều 168 Bộ luật hình sự, do đó, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đắk Lắk. Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 355, điểm a khoản 1 Điều 358 Bộ luật tố tụng hình sự, hủy bản án hình sự sơ thẩm số 43/2019/HSST ngày 17/6/2019 của òa án nhân dân huyện EaH'leo, tỉnh Đắk Lắk để điều tra xétt xử lại theo thủ tục chung.

Bị cáo tranh luận bào chữa cho rằng bị cáo chỉ hù dọa ng ời bị hại để lấy nợ chứ hông c ớp tài sản nh quan điểm của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đắk Lắk.

NH N Đ NH CỦA T A ÁN:

rên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã đ ợc tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định nh sau:

[1] Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo khai rằng: Do bà K nợ tiền của bị cáo và C1 nh ng đòi mãi hông trả. Ngày 21/01/2019 bị cáo điện thoại đòi nợ thì bà K hẹn mai (tức 22/01/2019) sẽ trả nh ng hi đến nhà thì bà K lại nói không có tiền nên bị cáo yêu cầu bà K điện thoại cho ng ời nhà đến trả, bà K vẫn không chịu trả nên bực tức, bị cáo tát 02 cái để cảnh cáo, sau đó bị cáo dọa chặt tay để bà K sợ để nói ng ời nhà mang tiền đến trả thì bà K mới trả đ ợc 1.700.000 đồng, đến chiều bà K m ợn và trả thêm đ ợc 3.000.000 đồng cho bị cáo và C1.

[2] Xét kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đắk Lắk, Hội đồng xét xử nhận thấy:

Hành vi của bị cáo xuất phát từ việc ng ời bị hại nợ tiền của bị cáo, do đến hạn trả nợ nh ng ng ời bị hại không trả và hẹn khất nhiều lần, bị cáo điện thoại thì không nghe máy, khi hẹn đến nhà trả nợ thì lại nói không có tiền, nên bị cáo có phần bực tức. Vào ngày 22/01/2019, bị cáo đến nhà thì bị hại không tiếp chuyện mà ra trốn ngoài v ờn tiêu thì bị phát hiện, khi gặp bị cáo hỏi việc trả nợ nh ng bà K nói ch a lo đ ợc tiền, có định trốn tránh nên bị cáo đã dùng tay tát 2 cái vào mặt bà K và yêu cầu trả tiền, bà K tiếp tục nói ch a có, thì C đi xuống bếp lấy 01 con dao đi lên và nói với bà K: “Cô điện ng ời nhà mang tiền đến trả cho cháu, nếu không có thì cháu chặt tay cô mang về”, vừa nói xong, liền ngay sau đó bị cáo vứt dao đi (ng ời bị hại cũng thấy). Nhận thấy từ thái độ, cử chỉ, lời nói "Cô”, “cháu" không thể hiện sự l u manh, hung hãn hay mảnh liệt, không làm tê liệt ý chí của ng ời bị hại, ng ời bị hại không lo sợ sự nguy hiểm tới tính mạng, sức khỏe ngay lập tức của mình. Sau lời hù dọa của bị cáo, bà K đi vào phòng ngủ của mình, có cửa chắc chắn, có điện thoại di động cầm theo, lúc này bị hại có nhiều cách lựa chọn để không giao tài sản vì có thể ở trong phòng hô hoán, điện thoại cho chính quyền địa ph ơng, hàng xóm hay ng ời thân để can thiệp, rõ ràng ng ời bị hại biết bị cáo chỉ hù dọa để lấy nợ chứ không dám xâm hại đến tính mạng, sức khỏe, thể hiện qua hành vi bị cáo hù dọa xong là vứt dao ngay. Hơn nữa lúc này bị hại cũng hông có tài sản gì trong tay, bị cáo cũng hông biết ng ời bị hại có 1.700.000 đồng, bị cáo chỉ dọa ng ời bị hại để ng ời thân mang tiền đến trả, ng ời bị hại đ a bao nhiêu thì bị cáo lấy bấy nhiêu và thực tế, sau khi hù dọa thì bà K cũng chỉ đ a cho bị cáo 1.700.000 đồng, sau đó ng ời bị hại hẹn đến chiều và đ a thêm 3.000.000 đồng, chứ bị cáo không hù dọa để nhằm chiếm đoạt số tiền 50.000.000 đồng, nên Viện kiểm sát cho rằng bị cáo chiếm đoạt 50 triệu đồng là hông có cơ sở.

Nh vậy, rõ ràng hành vi của bị cáo là uy hiếp tinh thần của ng ời bị hại, lời đe dọa này chỉ đ ợc thực hiện trong t ơng lai (thể hiện qua câu nói của bị cáo là: “Cô điện ng ời nhà mang tiền đến trả cho cháu” mà không phải ngay tức khắc tại chỗ. Sau khi bị cáo nói vậy, bà K đi vào trong phòng ngủ của mình, có điện thoại di động, bà K biết rằng, mình có điều kiện để báo với chính quyền, ng ời thân, hàng xóm nếu muốn. Mặt khác, tính chất việc đe dọa ít mãnh liệt (thông qua cách x ng hô, bị cáo đã vứt dao, bị cáo yêu cầu điện ng ời nhà bà K đến trả tiền chứ không buộc bà K ngay tức khắc đ a tài sản…). Rõ ràng, bị cáo có định làm cho ng ời bị hại hiểu rằng bị cáo không dám thực hiện ngay mà chỉ dọa, bị cáo không nhằm chiếm đoạt của ng ời bị hại ngay tức khắc lúc đó, mà h ớng tới một khoản thời gian nhất định thể hiện qua câu nói “Cô điện ng ời nhà mang tiền đến trả nếu không có thì cháu chặt tay mang về”.

Do đó hành vi của bị cáo là thỏa mãn với các yếu tố cấu thành tội "C ỡng đoạt tài sản" theo nh òa án cấp sơ thẩm đã xét xử là đúng ng ời, đúng tội, đúng pháp luật.

Xét mức hình phạt mà án sơ thẩm đã xử phạt đối với bị cáo là phù hợp, t ơng xứng với hành vi, tính chất, hậu quả mà bị cáo đã gây ra. Xét thấy các quyết định của bản án sơ thẩm là có căn cứ và đúng pháp luật. Do đó, không có căn cứ để chấp nhận kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đắk Lắk và giữ nguyên bản án sơ thẩm.

[3] Về án phí: Bị cáo không phải chịu án phí Hình sự phúc thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT Đ NH:

[1] Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 Bộ luật tố tụng hình sự;

Không chấp nhận háng nghị của Viện iểm sát nhân dân tỉnh Đắ Lắ và giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số: 43/2019/HSST ngày 17/6/2019 của òa án nhân dân huyện Ea H'leo, tỉnh Đắk Lắk.

Áp dụng khoản 1 Điều 170; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1, khoản 2, khoản 5 Điều 65 Bộ luật Hình sự.

- Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn C 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù, nh ng cho h ởng án treo về tội "C ỡng đoạt tài sản". Thời gian thử thách là 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm. Giao bị cáo Nguyễn Văn C cho Ủy ban nhân dân xã I, huyện C, tỉnh Gia Lai giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa ph ơng trong việc giám sát, giáo dục bị cáo.

Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 69 Luật thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

[2] Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng khoản 1 Điều 48 Bộ luật hình sự; Điều 584, 585 và 589 Bộ luật dân sự: Chấp nhận việc bị cáo Nguyễn Văn C đã tự nguyện bồi hoàn cho ng ời bị hại bà Võ Thị K số tiền là 4.700.000 đồng.

[3] Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 46 và 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy 01 con dao dài 30 cm, loại dao bầu có mũi nhọn, cán bằng gỗ, l ỡi làm bằng kim loại, chỗ rộng nhất 6 cm.

[4] Về án phí: Áp dụng Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban h ờng vụ Quốc Hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Về án phí hình sự sơ thẩm: Buộc bị cáo Nguyễn Văn C phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Về án phí phúc thẩm: Bị cáo Nguyễn Văn C hông phải chịu án phí Hình sự phúc thẩm.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật ể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ