vanban.org

Bản án 255/2019/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chị Vũ Thị L được ly hôn anh Phạm Văn Đ.

Về con chung: Giao anh Phạm Văn Đ trực tiếp nuôi 02 con chung tên Phạm Thị B, sinh ngày 11 tháng 10 năm 2011 và Phạm Vũ G, sinh ngày 27 tháng 8 năm 2016. Việc nuôi con được thực hiện cho đến khi từng con chung đủ 18 tuổi hoặc có thay đổi khác theo quy định của pháp luật. Sau khi ly hôn, người không … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn"
  • Tòa quyết gì? Chị Vũ Thị L được ly hôn anh Phạm Văn Đ.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN
THUỶ NGUYÊN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 255/2019/HNGĐ-ST
Ngày 26-11-2019
V/v ly hôn, tranh chấp về nuôi con

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THUỶ NGUYÊN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Lê Anh Sơn

Các Hội thẩm nhân dân:

Bà Nguyễn Thị Lương

Bà Nguyễn Thị Hương

- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Hà - Thư ký Toà án nhân dân huyện Thuỷ Nguyên, thành phố Hải Phòng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thủy Nguyên, thành phố Hải Phòng tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Vân - Kiểm sát viên.

Ngày 26 tháng 11 năm 2019, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Thuỷ Nguyên, thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 802/2019/TLST-HNGĐ ngày 08 tháng 10 năm 2019 về ly hôn tranh chấp về nuôi con theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 253/2019/QĐXXST-HNGĐ ngày 28 tháng 10 năm 2019 và Quyết hoãn phiên tòa số 215/2019/QĐST-HNGĐ ngày 14 tháng 11 năm 2019, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Vũ Thị L; địa chỉ: Thôn 1, xã CM, huyện NT, thành phố Hải Phòng, vắng mặt.

- Bị đơn: Anh Phạm Văn Đ; địa chỉ: Thôn 1, xã CM, huyện NT, thành phố Hải Phòng; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn: Chị Vũ Thị L và anh Phạm Văn Đ xây dựng hạnh phúc với nhau vào năm 2011, trên cơ sở tìm hiểu tự nguyện, có tổ chức lễ hỏi cưới theo phong tục tập quán địa phương và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã CM, huyện NT, thành phố Hải Phòng. Cuộc sống vợ chồng hòa thuận hạnh phúc đến đầu năm 2018 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là vợ chồng không có tiếng nói chung trong việc xây dựng kinh tế gia đình, cũng như nuôi con, không có sự tôn trọng lẫn nhau, coi thường nhau, vợ chồng thờ ơ lạnh nhạt với nhau. Do mâu thuẫn nên vợ chồng đã ly thân nhau từ cuối năm 2018 đến nay. Chị Vũ Thị L nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn nên đề nghị được ly hôn anh Phạm Văn Đ. Vợ chồng có 02 con chung tên Phạm Thị B, sinh ngày 11 tháng 10 năm 2011 và Phạm Vũ G, sinh ngày 27 tháng 8 năm 2016, hiện nay con chung đang ở với anh Phạm Văn Đ nên khi ly hôn chị Vũ Thị L để anh Phạm Văn Đ tiếp tục nuôi con. Về cấp dưỡng nuôi con chị Vũ Thị L đề nghị để chị và anh Phạm Văn Đ tự thỏa thuận giao nhận cho nhau không nghị Tòa án giải quyết. Về tài sản chung, chị Vũ Thị L không đề nghị Tòa án giải quyết.

Ý kiến và đề nghị của bị đơn: Anh Phạm Văn Đ đã được Tòa án tống đạt các văn bản và các quyết định tố tụng nhưng không có ý kiến gì về việc giải quyết vụ án.

Ý kiến của Viện kiểm sát: Thẩm phán, Hội đồng xét xử đã tuân theo đúng quy định của pháp luật Tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án; nguyên đơn đã chấp hành đúng quy định của pháp luật kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án. Bị đơn không chấp hành đúng quy định của pháp luật kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 28, Điều 35, Điều 39, Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 238 của Bộ luật Tố tụng Dân sự; các điều 51, 56, 81, 82, 83 của Luật Hôn nhân và gia đình giải quyết cho chị Vũ Thị L được ly hôn. Về con chung, giao cho anh Phạm Văn Đ trực tiếp nuôi con. Về cấp dưỡng cho con và tài sản chung không xem xét giải quyết vì không có yêu cầu giải quyết. Chị Vũ Thị L phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định.

Các tài liệu, chứng cứ, tình tiết của vụ án: Bản tự khai của đương sự; bản sao sổ hộ khẩu; bản sao giấy chứng minh nhân dân; bản sao giấy khai sinh của con xác định vợ chồng có 02 con chung; giấy chứng nhận kết hôn số 90, ngày 20 tháng 9 năm 2011 xác định chị Vũ Thị L và anh Phạm Văn Đ kết hôn từ ngày 20 tháng 9 năm 2011; tài liệu xác minh tại chính quyền địa phương xác định vợ chồng có mâu thuẫn từ đầu năm 2018, nguyên nhân do tính tình vợ chồng không hòa hợp và vợ chồng ly thân nhau và anh Phạm Văn Đ vẫn đang sinh sống tại thôn 3, xã CM, huyện NT, thành phố Hải Phòng.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Về tố tụng: Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai, nguyên đơn có đơn xin xét xử vắng mặt, bị đơn vắng mặt không có lý do. Căn cứ Điều 227, Điều 228, Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vụ án.

Về quan hệ hôn nhân: Quan hệ hôn nhân giữa chị Vũ Thị L và anh Phạm Văn Đ được xác lập vào năm 2011 là hợp pháp. Tài liệu chứng cứ thu thập được thể hiện quá trình chung sống vợ chồng hòa thuận hạnh phúc đến năm 2018 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do tính tình vợ chồng không hòa hợp và vợ chồng đã ly thân nhau. Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án triệu tập anh Phạm Văn Đ nhiều lần để hòa giải nhưng anh Phạm Văn Đ đều vắng mặt, điều này thể hiện anh Phạm Văn Đ không có mong muốn hòa giải. Chứng tỏ, mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Vì vậy, chấp nhận đề nghị của Vũ Thị L là phù hợp Điều 51, 56 của Luật Hôn nhân và gia đình.

Về con chung: Chị Vũ Thị L và anh Phạm Văn Đ có 02 con chung tên Phạm Thị B, sinh ngày 11 tháng 10 năm 2011 và Phạm Vũ G, sinh ngày 27 tháng 8 năm 2016, hiện nay con đang ở với anh Phạm Văn Đ, khi ly hôn chị Vũ Thị L có nguyện vọng để anh Phạm Văn Đ tiếp tục nuôi con. Việc nuôi con của anh Phạm Văn Đ ổn định và con chung có nguyện vọng muốn ở với bố nên khi ly hôn giao con chung cho anh Phạm Văn Đ tiếp tục nuôi con là phù hợp Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình. Về cấp dưỡng cho con, chị Vũ Thị L không đề nghị Tòa án giải quyết nên không xem xét giải quyết.

Về tài sản chung: Không có yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

Về án phí: Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội chị Vũ Thị L phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào Điều 28, Điều 35, Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự; các điều 51, 56, 81, 82, 83 của Luật Hôn nhân và gia đình; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, xử:

1. Chị Vũ Thị L được ly hôn anh Phạm Văn Đ.

2. Về con chung: Giao anh Phạm Văn Đ trực tiếp nuôi 02 con chung tên Phạm Thị B, sinh ngày 11 tháng 10 năm 2011 và Phạm Vũ G, sinh ngày 27 tháng 8 năm 2016. Việc nuôi con được thực hiện cho đến khi từng con chung đủ 18 tuổi hoặc có thay đổi khác theo quy định của pháp luật. Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

3. Về án phí: Chị Vũ Thị L phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng theo biên lai số 0003080 ngày 08 tháng 10 năm 2019 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Thủy Nguyên, thành phố Hải Phòng; chị Vũ Thị L đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm.

4. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Trường hợp quyết định này được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7 và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ