vanban.org

Bản án 255/2018/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Điểm a Khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày

30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận cho chị Hà Ngọc Quế Minh được ly hôn Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn"
  • Tòa quyết gì? Điểm a Khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN PHÚ TÂN
TỈNH AN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 255/2018/HNGĐ-ST
Ngày: 19-7-2018
V/v tranh chấp về “Hôn nhân và Gia đình
Ly hôn, nuôi con khi ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ TÂN, TỈNH AN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Hữu Nghĩa.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Thái Công Sết.

2. Ông Võ Thái Quân.

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Quốc Hoàng – Thư ký Tòa án nhân dân

huyện Phú Tân, tỉnh An Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Tân, tỉnh An Giang tham

gia phiên tòa: Ông Lê Hữu Đức – Kiểm sát viên.

Ngày 19 tháng 7 năm 2018, tại Tòa án nhân dân huyện Phú Tân xét xử sơ

thẩm công khai vụ án thụ lý số 86/2018/TLST-HNGĐ ngày 20/3/2018 về tranh

chấp “Hôn nhân và Gia đinh – Ly hôn, nuôi con khi ly hôn” theo quyết định đưa

vụ án ra xét xử số: 98/2018/QĐXXST-HNGĐ, ngày 04 tháng 6 năm 2018 giữa các

đương sự:

1. Nguyên đơn: Chị Hà Ngọc Quế Minh, sinh năm 1994 (vắng mặt).

Địa chỉ: Tổ 13, khóm Châu Long 7, phường Châu Phú B, thành phố Châu

Đốc, tỉnh An Giang.

2. Bị đơn: Anh Đỗ Văn Hiếu, sinh năm 1990 (vắng mặt).

Địa chỉ: Ấp Phú Trung, xã Phú Thành, huyện Phú Tân, tỉnh An Giang.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện yêu cầu ly hôn đề ngày 21/11/2017 nguyên đơn là chị Hà

Ngọc Quế Minh trình bày:

Sau thời gian tìm hiểu nhau về tình cảm, chị với anh Đỗ Văn Hiếu được hai

bên gia đình đồng ý tổ chức lễ cưới vào năm 2014, có đăng ký kết hôn và được

UBND xã Phú Thành, huyện Phú Tân, tỉnh An Giang cấp giấy chứng nhận đăng ký

kết hôn số 65 ngày 08/9/2016. Thời gian đầu vợ chồng chung sống có hạnh phúc đến năm 2017 thì xảy ra mâu thuẩn do bất đồng quan điểm, thường xuyên gây gỗ nhau nên chị Minh bỏ đi về nhà cha mẹ sinh sống từ đó vợ chồng ly thân cho đến nay.

Nhận thấy tình cảm giữa chị với anh Hiếu không còn nên chị yêu cầu được ly

hôn với anh Hiếu.

Về con chung: Vợ chồng có 01 con chung tên Đỗ Ngọc Tường Vy, sinh ngày

21/10/2016 hiện đang do chị nuôi dưỡng và chị có yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng, không yêu cầu anh Hiếu phải cấp dưỡng cho con.

Về tài sản chung và nợ phải thu, phải trả chung của vợ chồng: Không có.

Ngoài ra chị còn có đơn yêu cầu được vắng mặt tại phiên tòa do hoàn cảnh

kinh tế đang gặp khó khăn phải đi làm ăn xa.

Anh Đỗ Văn Hiếu đã được Tòa án niêm yết Thông báo thụ lý vụ án nhưng

vẫn không gửi văn bản nêu ý kiến của mình đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Tòa án đã triệu tập hợp lệ anh đến tham dự phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và phiên hòa giải đến lần thứ hai; triệu tập đến tham dự phiên tòa đến lần thứ hai nhưng anh vẫn vắng mặt, không rõ lí do. Tại phiên tòa, kiểm sát viên phát biểu về quá trình tiến hành tố tụng như sau:

Việc tuân theo pháp luật tố tụng: Tòa án tiến hành thụ lý vụ án, xác định tư

cách đương sự, quan hệ pháp luật tranh chấp, thẩm quyền giải quyết vụ án cũng như ban hành văn bản tố tụng, cấp, tống đạt, thông báo văn bản tố tụng đúng quy định; Nguyên đơn đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng của mình theo quy định, tuy nhiên đối với bị đơn đã được Tòa án triệu tập nhiều lần trong suốt quá trình giải quyết vụ án vẫn vắng mặt không lý do, cho thấy bị đơn không chấp hành nghĩa vụ tố tụng dân sự theo quy định.

Về việc giải quyết vụ án: Nguyên đơn yêu cầu được ly hôn với bị đơn. Bị đơn

được Tòa án triệu tập, niêm yết hợp lệ vẫn không có mặt nên không ghi nhận được ý kiến của bị đơn. Hôn nhân giữa anh Hiếu, chị Minh là hôn nhân hợp pháp, có đăng ký kết hôn. Thời gian đầu chung sống hạnh phúc đến năm 2017 thì phát sinh mâu thuẫn nên vợ chồng ly thân cho đến nay. Trong khoản thời gian anh chị mâu thuẫn không tự hàn gắn. Về con chung là cháu Đỗ Ngọc Tường Vy, sinh ngày 21/10/2016 đang do chị Minh nuôi dưỡng. Vì vậy, yêu cầu được ly hôn, yêu cầu được tiếp tục nuôi con chung không yêu cầu bị đơn phải cấp dưỡng cho con của nguyên đơn là có căn cứ.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, đã được thẩm tra tại

phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên Tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về quan hệ tranh chấp: Chị Minh khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết cho ly

hôn với anh Hiếu nên quan hệ tranh chấp của vụ án là “Ly hôn, nuôi con khi ly

hôn” theo quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng Dân sự.

[2] Về thẩm quyền giải quyết: Anh Minh với tư cách là bị đơn trong vụ kiện có

nơi cư trú tại ấp Phú Trung, xã Phú Thành, huyện Phú Tân, tỉnh An Giang nên căn

cứ theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố

tụng Dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân huyện Phú Tân, tỉnh

An Giang.

[3] Anh Hiếu đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vẫn vắng

mặt tại phiên tòa. Xét thấy, sự vắng mặt của anh không làm ảnh hưởng đến quyền

lợi của anh và không làm ảnh hưởng đến việc giải quyết vụ án nên Tòa án đưa vụ

án ra xét xử vắng mặt anh là phù hợp với quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ

luật Tố tụng Dân sự.

[4] Chị Minh có yêu cầu xin xét xử vắng mặt tại phiên tòa nên Tòa án đưa vụ án

ra xét xử vắng mặt chị là phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố

tụng Dân sự.

[5] Về quan hệ hôn nhân: Chị Minh với anh Hiếu kết hôn vào năm 2014 và đã

đăng ký kết hôn vào năm 2016 tại Ủy ban nhân dân xã Phú Thành, huyện Phú Tân,

tỉnh An Giang nên hôn nhân của anh, chị được pháp luật công nhận. Xét thấy, vợ

chồng anh chị đã ly thân từ năm 2017, từ đó cho đến nay hai bên không quan tâm,

chăm sóc, lo lắng cho nhau nên đã vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ của vợ,

chồng làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể

kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Vì vậy, chị Minh yêu cầu được ly

hôn với anh Hiếu là phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và

gia đình năm 2014, nghĩ nên chấp nhận.

[6] Về con chung: Chị Minh xác định chị với anh Hiếu có 01 con chung tên Đỗ

Ngọc Tường Vy, sinh ngày 21/10/2016, hiện đang do chị nuôi dưỡng. Xét thấy, từ

khi vợ chồng ly thân cho đến nay cháu Vy đã sống chung với chị Minh, dưới sự

chăm sóc, giáo dục của chị, cháu đang sinh sống ổn định và phát triển bình thường,

chị Minh có đủ điều kiện để trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục

cháu Vy nên yêu cầu của chị là phù hợp với quy định tại khoản 3 Điều 81 Luật

Hôn nhân và gia đình năm 2014, nghĩ nên tiếp tục giao cháu Vy cho chị Minh nuôi

dưỡng. Anh Hiếu được quyền đến thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con

chung.

[7] Về cấp dưỡng cho con: Chị Minh không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không

xem xét.

[8] Về tài sản chung và nợ phải thu, phải trả chung của vợ chồng: Không có.

[9] Về án phí: Chị Minh phải chịu án phí dân sự sơ thẩm đối với yêu cầu ly hôn là 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) và được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí mà chị đã nộp là 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu tiền số 0016637 ngày 19/3/2018 của Chi Cục thi hành án dân sự huyện Phú Tân, tỉnh An Giang. Anh Hiếu không phải chịu án phí.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào:

- Khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4

Điều 147; điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 1 Điều 228; Điều 271; Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự;

- Khoản 1 Điều 56; Điều 81; Điều 82; Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình

năm 2014;

- Điểm a Khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày

30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Xử:

1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận cho chị Hà Ngọc Quế Minh được ly hôn

với anh Đỗ Văn Hiếu.

2. Về con chung: Chị Minh được quyền tiếp tục nuôi dưỡng cháu Đỗ Ngọc

Tường Vy, sinh ngày 21/10/2016. Chị Minh không yêu cầu cấp dưỡng cho con nên không xem xét giải quyết. Anh Hiếu được quyền thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung, không ai được ngăn cấm. Vì quyền lợi của con, khi cần thiết một hoặc hai bên có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con, cấp dưỡng cho con.

3. Về án phí: Chị Minh phải chịu án phí dân sự sơ thẩm đối với yêu cầu ly

hôn là 300.000 đồng (ba trăm ngàn đồng), được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng theo biên lai thu tiền số 0016637 ngày 19/3/2018 của Chi cục Thi hành án huyện Phú Tân, tỉnh An Giang. Anh Hiếu không phải chịu án phí.

Trường hợp Bản án, Quyết định được thi hành theo qui định tại điều 2 Luật

thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày

tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có

lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc được

tống đạt hợp lệ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ