vanban.org

Bản án 255/2018/DS-ST — Tranh chấp hợp đồng tín dụng

TAND Quận 7, TP. Hồ Chí Minh Tuyên án 04/05/2018 Dân sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về hình thức: Xử vắng mặt bị đơn bà Phạm Thị Th.

Về nội dung: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng S. 1. Buộc bà Phạm Thị Th phải thanh toán cho Ngân hàng S tổng số nợ còn thiếu là 53.090.744 đồng (Năm mươi ba triệu, không trăm chín mười nghìn, bảy trăm bốn mươi bốn đồng), trong đó: tiền nợ gốc là 28.626.209 (Hai mươi tám triệu sáu trăm hai m… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng tín dụng — án dân sự — "Ngân hàng TMCP Sài Gòn Thương Tín khởi kiện bà Phạm Thị Thơm"
  • Tòa quyết gì? Về hình thức: Xử vắng mặt bị đơn bà Phạm Thị Th.
  • Căn cứ chính? Điều 108 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 192 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 7 CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 255/2018/DS-ST
Ngày: 04-5-2018
V/v “tranh chấp
hợp đồng vay tài sản”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 7 - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Mai Trần Cảnh

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Mai Trọng Thắng;

2. Ông Ngô Hữu Quang.

- Thư ký phiên tòa: Bà Hà Thị Luyến - là Thư ký Tòa án nhân dân Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 7 tham gia phiên tòa: Bà Hồ Thị Huệ - Kiểm sát viên

Ngày 04 tháng 5 năm 2018 tại Tòa án nhân dân Quận 7, xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự sơ thẩm thụ lý số 319/2017/TLST-DS ngày 07 tháng 11 năm 2017 về việc “Tranh chấp Hợp đồng vay tài sản” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 32/2018/QĐXXST-DS ngày 07 tháng 3 năm 2018 và Quyết định hoãn phiên tòa số 40/2018/QĐST-DS ngày 06 tháng 4 năm 2018 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Ngân hàng S; Địa chỉ trụ sở chính: Lầu 8, N, Phường T, Quận 3, Thành phố Hồ Chí Minh; Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn: Ông Đoàn Văn H, sinh năm 1983; Nơi cư trú: Số D, phường B, Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh - Là người đại diện theo ủy quyền (Giấy ủy quyền số 1386/2017/UQ-TTT ngày 18/10/2017) (có mặt).

2/ Bị đơn: Bà Phạm Thị Th, sinh năm 1989; Nơi cư trú: B Chung cư E, Đường B, Tổ T, Khu phố H, phường Phú Mỹ, Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Nguyên đơn tại đơn khởi kiện ngày 18/10/2017 và trong quá trình giải quyết, xét xử vụ án nguyên đơn Ngân hàng S có ông Đoàn Văn Hiển là người đại diện theo ủy quyền trình bày:

Ngày 26/9/2015, bà Phạm Thị Th có ký với Ngân hàng S Hợp đồng sử dụng Thẻ tín dụng, bao gồm: Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng và bản Điều khoản và Điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng, với mục đích tiêu dùng cá nhân, với hạn mức tín dụng là 25.000.000 (hai mươi lăm triệu) đồng.

Sau khi được cấp thẻ tín dụng, bà Th đã thực hiện các giao dịch với tổng số tiền là 23.868.455 (Hai mươi ba triệu tám trăm sáu mươi tám ngàn bốn trăm năm mươi lăm) đồng, trong quá trình sử dụng thẻ, bà Th thanh toán cho Ngân hàng số tiền 100.000 đồng sau đó bà Th không thanh toán cho Ngân Hàng theo thỏa thuận. Do thỏa thuận hai bên là cộng với tiền phí trễ hạn và các loại phí thì tiền gốc tổng cộng là 28.626.209 (Hai mươi tám triệu sáu trăm hai mươi sáu nghìn hai trăm lẻ chín) đồng. Qua nhiều lần làm việc và nhắc nhở nhưng bà Th vẫn không có thiện chí trả nợ. Do bà Th vi phạm nghĩa vụ thanh toán tại Điều 2 của Bản Điều khoản và Điều kiện phát hành sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng, ngày 29/02/2016 Ngân hàng đã chấm dứt quyền sử dụng thẻ và chuyển toàn bộ dư nợ còn thiếu sang nợ quá hạn theo Điều 23 của Bản Điều khoản và Điều kiện phát hành sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng.Tính đến ngày 04/5/2018, bà Th còn nợ các khoản sau:

Nợ gốc: 28.626.209 đồng;

Lãi quá hạn: tính đến ngày 04/5/2018 là 24.464.535 đồng;

Tổng cộng: 53.090.744 đồng (Bằng chữ: Năm mươi ba triệu, không trăm chín mười nghìn, bảy trăm bốn mươi bốn đồng).

Do đó, để bảo vệ quyền lợi hợp pháp, nguyên đơn Ngân hàng S yêu cầu bà Phạm Thị Th có trách nhiệm thanh toán một lần và toàn bộ số tiền cho Ngân hàng tính đến ngày 04/5/2018 là 53.090.744 đồng (Bằng chữ: Năm mươi ba triệu, không trăm chín mười nghìn, bảy trăm bốn mươi bốn đồng) và tiền lãi phát sinh từ ngày 27/02/2018 cho đến khi bà Th thanh toán dứt điểm nợ vay theo lãi suất quy định tại Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng ký ngày 26/9/2015 và Bản Điều khoản và Điều kiện phát hành sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng.

Về phía bị đơn bà Phạm Thị Th, trong suốt quá trình giải quyết vụ án, Tòa án nhân dân Quận 7 đã nhiều lần triệu tập bà Th đến trụ sở Tòa án để giải quyết vụ kiện theo đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự nhưng bà Th vẫn vắng mặt không có lý do, không có ý kiến phản hồi mặc dù đã được Tòa án tống đạt hợp lệ. Do đó, Tòa án không thể tiến hành lấy lời khai cũng như hòa giải theo quy định pháp luật.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của thẩm phán, Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng, đầy đủ trình tự thủ tục tố tụng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng dân sự kể từ khi thụ lý vụ án cho đến thời điểm Hội đồng xét xử nghị án. Về nội dung, xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn có căn cứ nên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên

tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về tố tụng:

Căn cứ kết quả trả lời của Công an phường Phú Mỹ tại Phiếu yêu cầu xác minh số 29/TAQ7 ngày 18/01/2017 của Tòa án nhân dân Quận 7 thì “Đ/s Phạm Thị Th SN: 1989 có cư trú tại B Chung cư E, Đường B, Tổ T, Kp H, P.Phú Mỹ, Q7 từ tháng 5/2015 đến tháng 01/2016. Đầu tháng 02/2016 đ/s Phạm Thị Th không còn thực tế ở, chuyển đi đâu không rõ.”. Như vậy, nguyên đơn đã ghi đầy đủ và đúng về nơi cư trú của bị đơn nhưng bị đơn không thông báo cho nguyên đơn về nơi cư trú mới, căn cứ vào Điểm e Khoản 1 Điều 192 Bộ luật tố tụng Dân sự năm 2015, Tòa án tiến hành thụ lý, giải quyết theo thủ tục chung.

Nguyên đơn Ngân hàng khởi kiện yêu cầu bị đơn trả lại số tiền đã vay và bị đơn bà Phạm Thị Th hiện cư trú tại Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh. Đây là tranh chấp về hợp đồng vay tài sản là loại tranh chấp được quy định tại khoản 3 Điều 26 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015 và thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh theo Khoản 1 Điều 35; điểm a Khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015.

Bà Phạm Thị Th vắng mặt không có lý do, không có ý kiến phản hồi và thuộc trường hợp đã được tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng để tham gia giải quyết vụ án, tham gia phiên tòa nên Hội đồng xét xử quyết định tiến hành xét xử vắng mặt bà Th theo điểm b Khoản 2 Điều 227; Điều 228 Bộ luật tố tụng Dân sự năm 2015. Căn cứ Khoản 4 Điều 91, Điều 95, Điều 96 và Điều 108 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 thì bị đơn Phạm Thị Th đã tự ý tước bỏ các quyền tự chứng minh, trình bày ý kiến của mình và chịu hậu quả của việc không chứng minh nên Hội đồng xét xử căn cứ vào yêu cầu và tài liệu chứng cứ của nguyên đơn để làm cơ sở giải quyết vụ án.

Về yêu cầu khởi kiện của đương sự:

Tại đơn khởi kiện ngày 08/05/2017 và tại phiên tòa hôm nay, nguyên đơn yêu cầu bị đơn bà Th phải trả số tiền 53.090.744 đồng (Bằng chữ: Năm mươi ba triệu, không trăm chín mười nghìn, bảy trăm bốn mươi bốn đồng), trong đó: số tiền nợ gốc là 28.626.209 đồng; và nợ lãi tính đến ngày 04/5/2018 là 24.464.535 đồng; yêu cầu trả làm một lần sau khi bản án có hiệu lực pháp luật. Ngoài ra bà Th còn phải thanh toán tiền lãi phát sinh từ ngày 05/5/2018 cho đến khi trả hết nợ theo mức lãi suất nợ quá hạn.

Căn cứ theo các quy định và các văn bản hai bên đã ký kết, xét thấy có đủ cơ sở xác định Ngân hàng S có cho bà Th mở thẻ tín dụng với hạn mức tín dụng là 25.000.000đ. Bà Th đã sử dụng thẻ để thực hiện các giao dịch với tổng số tiền là 23.868.455 (Hai mươi ba triệu tám trăm sáu mươi tám ngàn bốn trăm năm mươi lăm) đồng, cộng với tiền phí trễ hạn và các loại phí thì tiền gốc tổng cộng là 28.626.209 (Hai mươi tám triệu sáu trăm hai mươi sáu nghìn hai trăm lẻ chín) đồng.

Quá trình thực hiện hợp đồng bà Th chỉ thanh toán được số tiền 100.000 đồng (Một trăm ngàn đồng). Do bà Th vi phạm nghĩa vụ thanh toán tại Điều 2 của Bản Điều khoản và Điều kiện phát hành sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng, ngày 26/02/2016 Ngân hàng đã chấm dứt quyền sử dụng thẻ và chuyển toàn bộ dư nợ còn thiếu sang nợ quá hạn theo Điều 23 của Bản Điều khoản và điều kiện phát hành sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng là phù hợp với quy định của pháp luật và thỏa thuận của hai bên trong Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng ký ngày 26/9/2015 và Bản Điều khoản và Điều kiện phát hành sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng. Do đó, yêu cầu của nguyên đơn là Ngân hàng S yêu cầu bà Phạm Thị Th trả tổng số tiền là 53.090.744 đồng (Bằng chữ: Năm mươi ba triệu, không trăm chín mười nghìn, bảy trăm bốn mươi bốn đồng), trong đó: số tiền nợ gốc là 28.626.209 đồng; và nợ lãi tính đến ngày 04/5/2018 là 24.464.535 đồng làm một lần ngay ssu khi bản án có hiệu lực pháp luật và tiền lãi phát sinh từ ngày 05/5/2018 cho đến khi trả hết nợ theo mức lãi suất nợ quá hạn do các bên đã thỏa thuận trong Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng ký ngày 26/9/2015 và Bản Điều khoản và Điều kiện phát hành sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng là có cơ sở chấp nhận theo quy định tại Khoản 2 Điều 91 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010.

Về án phí dân sự sơ thẩm:

Do yêu cầu của nguyên đơn buộc bị đơn phải trả cho nguyên đơn số tiền 53.090.744 đồng (Năm mươi ba triệu, không trăm chín mươi ngàn, bảy trăm bốn mươi bốn đồng) và tiền lãi phát sinh từ ngày 05/5/2018 được chấp nhận nên phía bị đơn phải chịu tiền án phí theo quy định tại Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 là 2.654.573 (Hai triệu sáu trăm năm mươi bốn nghìn năm trăm bảy mươi ba) đồng.

Hoàn lại nguyên đơn số tiền tạm ứng án phí đã đóng theo quy định của pháp luật.

Quyền kháng cáo: Ngân hàng S và bà Phạm Thị Th có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Kiểm sát viên đề nghị chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn là phù hợp với nhận định trên của Hội đồng xét xử.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ Khoản 3 Điều 26; Điểm a khoản 1 Điều 35; Khoản 1 Điều 39; Khoản 4 Điều 91; Điều 147; Khoản 1 Điều 207; Điểm b Khoản 2 Điều 227; Khoản 3 Điều 228 và Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;

Căn cứ khoản 2 Điều 91, Khoản 1 Điều 95 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010;

- Căn cứ Luật phí, lệ phí và Khoản 1 Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội;

- Căn cứ vào Điều 26 Luật Thi hành án dân sự đã được sửa đổi, bổ sung 2014;

Xử:

1. Về hình thức: Xử vắng mặt bị đơn bà Phạm Thị Th.

2. Về nội dung: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng S.

2.1. Buộc bà Phạm Thị Th phải thanh toán cho Ngân hàng S tổng số nợ còn thiếu là 53.090.744 đồng (Năm mươi ba triệu, không trăm chín mười nghìn, bảy trăm bốn mươi bốn đồng), trong đó: tiền nợ gốc là 28.626.209 (Hai mươi tám triệu sáu trăm hai mươi sáu ngàn hai trăm lẻ chín) đồng, nợ lãi tính đến ngày 04/5/2018 là 24.464.535 đồng (Hai mươi bốn triệu bốn trăm sáu mươi bốn nghìn năm trăm ba năm đồng); trả làm một lần ngay sau khi bản án có hiệu lực thi hành.

Kể từ ngày 05 tháng 5 năm 2018, bà Phạm Thị Th còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi quá hạn của số tiền nợ gốc chưa thanh toán, theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng ký ngày 26/9/2015 và Bản Điều khoản và Điều kiện phát hành sử dụng thẻ tín dụng.

2.2. Về án phí dân sự sơ thẩm:

Bà Phạm Thị Th phải chịu 2.654.573 (Hai triệu sáu trăm năm mươi bốn nghìn năm trăm bảy mươi ba) đồng án phí dân sự sơ thẩm, nộp tại Chi cục thi hành án dân sự có thẩm quyền.

Hoàn lại Ngân hàng S số tiền tạm ứng án phí đã đóng là 1.176.481 đồng (Một triệu một trăm bảy mươi sáu nghìn bốn trăm tám mươi một đồng) theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số AA/2017/0024563 ngày 07/11/2017 của Chi cục Thi hành án dân sự Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh.

2.3. Quyền yêu cầu thi hành án, thời hiệu thi hành án, nghĩa vụ thi hành án:

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 1, Điều 2 Luật Thi hành án dân sự đã được sửa đổi, bổ sung năm 2014 thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7, Điều 7a và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự đã được sửa đổi, bổ sung năm 2014. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự đã được sửa đổi, bổ sung năm 2014

2.4. Quyền kháng cáo:

Nguyên đơn Ngân hàng S được quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Bị đơn bà Phạm Thị Th có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc từ ngày bản án được niêm yết hợp lệ.

Cỡ chữ