vanban.org

Bản án 255/2017/HSPT — Hình sự

TAND tỉnh Đồng Nai Tuyên án 22/09/2017 Hình sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 22/09/2017 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận việc r t kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đ ng Nai.

Không chấp nhận kháng cáo của các bị cáo Đỗ Hoàng L và Tr n Ái M, giữ nguyên bản án sơ th m. X phạt: Bị cáo Đỗ Hoàng L 05 (Năm) năm tù về t i “Cưỡng đoạt tài sản”. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Đỗ Hoàng L và đồng phạm - phạm tội cưỡng đoạt tài sản (điều 135 Bộ luật hình sự năm 1999)"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận việc r t kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đ ng Nai.
  • Căn cứ chính? Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 135 Bộ luật Hình sự; Điều 46 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH ĐỒNG NAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 255/2017/HSPT
Ngày: 22/9/2017

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NH N D N TỈNH ĐỒNG NAI

V i thành ph n H i đ ng xét x ph c th m g m có:

Th m phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Hồng Hương

Các th m phán:

Ông Nguyễn Thành Lượng

Ông Nguyễn Tiến Dũng

Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Tài

Đại diện VKSND tỉnh Đ ng Nai: Ông Nguyễn Văn Hiền - Kiểm sát viên.

Hôm nay, ngày 22 tháng 9 năm 2017 tại trụ sở Tòa án nhân tỉnh Đ ng Nai xét x ph c th m công khai vụ án hình sự thụ lý số 191/2017/HSPT ngày 07/8/2017 do có kháng cáo của các bị cáo và kháng nghị của VKSND huyện Tân Phú đối v i bản án hình sự sơ th m số 42/2017/HSST ngày 27/6/2017 của TAND huyện P.

- Các bị cáo có kháng cáo:

1. Đỗ Hoàng L, sinh năm 1985, tại Đ ng Nai; Nơi ĐKHKTT: Ấp M1, xã N, huyện P, Đ ng Nai; Trình đ học vấn: 11/12; Nghề nghiệp: Buôn bán; Dân t c: Kinh; Tôn giáo: Thiên chúa; Con ông Đỗ Tiến H, sinh năm 1957 và bà Nguyễn Thị L, sinh năm 1960; Chung sống như vợ ch ng v i chị Võ Thị Hà T, sinh năm 1992 và có 01 con, sinh năm 2016.

Tiền án, tiền sự: Không.

Nhân thân:

- Ngày 24/9/2005, áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở giáo dục thời hạn 24 tháng theo quyết định số 3006/QĐ ngày 24/8/2005 của UBND tỉnh Đ ng Nai.

- Ngày 08/7/2008, bị Tòa án nhân dân huyện P, tỉnh Đ ng Nai x phạt 01 năm 04 tháng tù về t i “Cố ý gây thương tích”.

- Ngày 30/9/2009, bị Tòa án nhân dân huyện P, tỉnh Đ ng Nai x phạt 02 năm 06 tháng tù về t i “Bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản”. Chấp hành xong hình phạt ngày 11/9/2011.

- Ngày 12 tháng 9 năm 2016, bị Tòa án nhân dân tỉnh Đ ng Nai x phạt 02 năm 06 tháng tù về t i “Cố ý gây thương tích”.

Hiện đang trong thời gian chấp hành án. (Có mặt)

2. Trần Ái M, sinh năm 1984, tại Đ ng Nai; Nơi ĐKHKTT: 58 Tổ 5, Ấp M2, xã L, huyện P, Đ ng Nai; Trình đ học vấn: 9/12; Nghề nghiệp: Làm thuê; Dân t c: Kinh;Tôn giáo: Thiên chúa; Con ông Tr n Văn O, sinh năm 1935 và bà Mai Thị H, sinh năm 1945; Bị cáo chưa có vợ, con; Tiền án, tiền sự: Không; Bị bắt tạm giam từ ngày 26/01/2016. (Có mặt)

- Người bị hại: Anh Phạm Quang M, sinh năm 1984. Đại chỉ: Ấp M2, xã L, huyện P, Đ ng Nai. (Có mặt)

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

+ Ông Phạm Văn T, sinh năm 1958. Địa chỉ: ấp M2, xã L, huyện P, Đ ng Nai. (Vắng mặt)

+ Chị Nguyễn Ngọc Trâm A, sinh năm 1984. Địa chỉ: ấp M 2, xã L, huyện P, Đ ng Nai. (Vắng mặt)

+ Anh Nguyễn Minh H, sinh năm 1981. Địa chỉ: khu 2, thị trấn P, huyện P, Đ ng Nai. (Vắng mặt)

- Người bào chữa: Bà Mai Thị Kim S – Luật sư thu c Văn phòng Luật sư Mai Thị Kim S, Đoàn Luật sư Thành phố H Chí Minh tham gia bào chữa cho các bị cáo. (Có mặt)

NHẬN THẤY

Theo án hình sự sơ th m: Đỗ Hoàng L và anh Phạm Quang M có mối quan hệ bạn bè v i nhau. Do anh Phạm Quang M thiếu nợ của Đỗ Hoàng L 95.000.000 đ ng nên vào ngày 18/10/2015, bị cáoL chỉ đạo cho Tr n Ái M (là người làm thuê cho bị cáo L) đến nhà anh Quang M đòi nợ. Tr n Ái M đi gặp anh Quang M nhưng anh Quang M chỉ trả được 10.000.000 đ ng và xin khất số nợ còn lại, Tr n Ái M gọi điện báo cho bị cáo L biết. Bị cáo L chỉ đạo bị cáo M chở anh Quang M về quán “Dâu Da”, thu c Khu 11, huyện P, tỉnh Đ ng Nai (do bị cáo L làm chủ). Tại đây, anh Quang M tiếp tục xin trả trư c 10.000.000 đ ng, số tiền 85.000.000 đ ng còn lại anh Quang M xin được trả sau. Bị cáo L không đ ng ý nên đã dùng chân đá vào mặt anh Quang M làm anh Quang M ngã xuống đất, sau đó bị cáo L tiếp tục dùng đèn pin (có chức năng bắn tia điện) bắn vào người anh Quang M làm anh Quang M trong trạng thái co giật. Đ ng thời, bị cáo L còn đe dọa anh Quang M, yêu c u anh Quang M phải gọi điện cho gia đình mang tiền đến trả cho bị cáo L (nhưng gia đình anh Quang M không có tiền). Biết anh Quang M không thể có tiền trả ngay lúc này nên bị cáo L cho anh Quang M về, yêu c u 09 giờ sáng ngày hôm sau phải đem tiền đến trả. Sáng ngày 19/10/2015, bị cáo L kêu bị cáo M đến nhà anh Quang M đòi tiền nhưng gia đình anh Quang M chỉ trả được 20.000.000đ. Bị cáo L liền gọi điện, nhắn tin đe dọa anh Quang M và gia đình của anh Quang M. Do sợ hãi trư c sự đe dọa của bị cáo L nên ngày 20/10/2015 anh Quang M và gia đình đã vay mượn 65.000.000 đ ng và nhờ anh Lê Anh Q (là bạn) đến nhà lấy tiền mang trả cho bị cáo L (do anh Quang M sợ bị cáo L đánh). Anh Q điện thoại báo cho bị cáo L biết, bị cáo L kêu bị cáo M đến gặp Q để lấy tiền.

Về vật chứng vụ án: Thu giữ tại hiện trường 01 chiếc h p đựng đèn pin, ký hiệu T10; Tài sản thu giữ: 85.000.000 đ ng. Riêng 01 xe mô tô Honda nhãn hiệu Dream, biển số 60P-4445, 01 điện thoại di đ ng của Tr n Ái M, 01 điện thoại của Đỗ Hoàng L, hiện chưa thu giữ được.

Tại bản án hình sự sơ th m số 42/2017/HSST ngày 27/6/2017 của TAND huyện P đã áp dụng điểm d khoản 2 Điều 135 BLHS; khoản 2 Điều 46; Điều 53 BLHS x phạt: các bị cáo Đỗ Hoàng L 05 (Năm) năm tù, Tr n Ái M 03 (Ba) năm tù đều về t i “Cưỡng đoạt tài sản”.

Ngoài ra án sơ th m còn tuyên về x lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo theo luật định.

Ngày 04/7/2017, các bị cáo Đỗ Hoàng L và Tr n Ái M kháng cáo kêu oan.

Ngày 10/7/2017, VKSND huyện P có Quyết định kháng nghị số 220/KN-VKS ngày 10/7/2017 kháng nghị về ph n t i danh và hình phạt: Đề nghị s a t i danh từ t i “Cưỡng đoạt tài sản” sang t i “Cư p tài sản” và tăng mức hình phạt đối v i các bị cáo.

Tại phiên tòa ph c th m, các bị cáo Đỗ Hoàng L và Tr n Ái M tiếp tục đề nghị HĐXX xem xét kháng cáo kêu oan của các bị cáo và cho rằng mình bị đánh đập, ép cung nên m i khai nhận hành vi phạm t i như bản án sơ th m nêu, thật sự các bị cáo và người bị hại là bạn bè nên chỉ yêu c u anh Quang M trả nợ vì đã để nợ quá lâu. Trong l c nói chuyện ở quán, do anh Quang M tiếp tục khất nợ nên bị cáo L có bực tức và xô đ y anh Quang M nhưng không đánh đập cũng không dí đèn pin vào người anh Quang M.

Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa ph c th m xác định: Bị cáo Đỗ Hoàng L có hành vi dùng vũ lực và đã điện thoại, nhắn tin đe dọa người bị hại để đòi tiền (nợ) là có thật nhưng hành vi không quyết liệt và ngay tức khắc. Hành vi này của các bị cáo đủ cơ sở kết t i “Cưỡng đoạt tài sản” như bản án hình sự sơ th m số 42/2017/HSST ngày 27/6/2017 của TAND huyện P đã nêu. Vì vậy, kháng nghị của VKSND huyện P là không có căn cứ. Đại diện VKSND tỉnh Đ ng Nai rút toàn b kháng nghị số 220/KN-VKS ngày 10/7/2017 của VKSND huyện P tại phiên tòa đối v i n i dung s a t i danh của các bị cáo Đỗ Hoàng L và Tr n Ái M từ t i “Cưỡng đoạt tài sản” sang t i “Cư p tài sản” và đề nghị tăng mức hình phạt đối v i các bị cáo của VKSND huyện P.

Đối v i kháng cáo của các bị cáo, đại diện VKSND tỉnh Đ ng Nai cho rằng: Hành vi phạm t i của các bị cáo đã được thể hiện rõ qua các lời khai của người bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và cả chính lời khai của các bị cáo trong giai đoạn điều tra ban đ u. Do đó, việc các bị cáo kêu oan và nêu lý do bị cơ quan điều tra đánh đập, ép cung là không có căn cứ. Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã h i, đã xâm phạm đến sức khỏe, tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, các bị cáo dùng vũ lực đe dọa bu c người bị hại phải trả tiền cho các bị cáo, trong đó bị cáo L giữ vai trò là người chủ mưu, bị cáo M là người gi p sức tích cực nên c n giành cho các bị cáo mức án thật nghiêm. Cấp sơ th m x phạt các bị cáo Đỗ Hoàng L 05 năm tù, Tr n Ái M 03 năm tù là phù hợp, đ ng quy định. Đề nghị HĐXX không chấp nhận kháng cáo kêu oan của các bị cáo, giữ nguyên bản án sơ th m.

Luật sư bào chữa cho các bị cáo tại phiên tòa cho rằng: Bản án hình sự sơ th m số 42/2017/HSST ngày 27/6/2017 của TAND huyện P kết t i các bị cáo đã có hành vi điện thoại, nhắn tin đe dọa người bị hại nhưng lại không thu h i điện thoại để làm rõ có hay không các cu c gọi và tin nhắn như trong h sơ thể hiện. Trong khi các bị cáo không thừa nhận hành vi đã thực hiện như bản án sơ th m đã nêu, vật chứng là đèn pin cũng không thu được (chỉ có vỏ đèn pin). Do đó, đề nghị HĐXX hủy án sơ th m để điều tra làm rõ những vấn đề trên.

Căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu đã được th m tra tại phiên tòa; Căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa trên cơ sở xem xét đ y đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, Luật sư, các bị cáo và người tham gia tố tụng.

XÉT THẤY

Qua các tài liệu, chứng cứ có tại h sơ vụ án và quá trình xét hỏi tại phiên tòa ph c th m, thấy rằng: Từ việc anh Phạm Quang M nợ 95.000.000 đ ng của bị cáo Đỗ Hoàng L không trả. Ngày 18/10/2015, bị cáo L đã chỉ đạo cho người làm thuê của mình là bị cáo Tr n Ái M đi tìm anh Quang M đòi nợ. Do anh Quang M không có đủ tiền, mà chỉ có thể trả được 10.000.000 đ ng nên bị cáo M đã đưa anh Quang M đến gặp bị cáo L tại quán “Dâu Da” (do bị cáo L làm chủ). Tại đây, sau khi nghe anh Quang M trình bày hoàn cảnh, bị cáo L đã dùng chân đạp vào người anh Quang M làm anh Quang M té ngã xuống đất. Sau đó, bị cáo L còn dùng đèn pin (có chức năng bắn tia điện) bắn vào người anh Quang M làm anh Quang M trong trạng thái bị co giật để bu c anh Quang M phải trả hết số tiền còn lại (85.000.000 đ ng) m i cho anh Quang M ra về. Từ ngày 19/10/2015 đến ngày 20/10/2015, bị cáo L và đ ng phạm đã liên tục gọi điện thoại, nhắn tin đe dọa anh Quang M và gia đình anh Quang M bu c phải trả tiền cho các bị cáo. Trong hai ngày 19, 20/10/2015, anh Quang M đã trả cho bị cáo Đỗ Hoàng L 85.000.000 đ ng thông qua ông Phạm Văn T (cha anh Quang M) và anh Lê Anh Q (bạn anh Quang M).

Như vậy, chỉ vì muốn đòi được nợ mà bị cáo Đỗ Hoàng L và đ ng phạm đã thực hiện m t chuỗi hành vi như: liên tục gọi điện thoại, nhắn tin thậm chí đánh và dùng đèn pin có bắn tia l a điện vào người anh Quang M để uy hiếp tinh th n người bị hại, bu c người bị hại phải trả nợ cho mình. Các bị cáo không chỉ thực hiện m t ngày, m t l n mà thực hiện nhiều l n liên tiếp trong 03 ngày cho đến khi đòi được nợ m i chấm dứt.

V i hành vi phạm t i nêu trên, tòa án cấp sơ th m đã x phạt các bị cáo Đỗ Hoàng L và Tr n Ái M về t i “Cưỡng đoạt tài sản” theo quy định tại Điều 135 BLHS là có căn cứ, đ ng người, đ ng t i, đ ng pháp luật. Số tiền các bị cáo chiếm đoạt là 85.000.000 đ ng nên đã phạm vào tình tiết định khung quy định tại điểm d “Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ năm mươi triệu đ ng đến dư i hai trăm triệu đ ng” khoản 2 Điều 135 BLHS.

Tại phiên tòa ph c th m, đại diện VKSND tỉnh Đ ng Nai đã r t toàn b

kháng nghị của VKSND huyện P về t i danh là phù hợp, đ ng quy định nên được chấp nhận. Riêng các bị cáo vẫn không thừa nhận hành vi phạm t i của mình như bản án sơ th m đã nêu, anh Phạm Quang M là người bị hại trong vụ án cũng cho rằng mình không bị đánh đập, không bị điện thoại, nhắn tin đe dọa bu c phải trả nợ. Việc anh trả nợ cho bị cáo L là hoàn toàn tự nguyện. Tuy nhiên, qua Đơn tố cáo của anh Phạm Quang M đề ngày 20/10/2015 g i đến Công an tỉnh Đ ng Nai (B t lục 94) và qua các lời khai của anh Quang M tại Cơ quan Cảnh sát điều tra (từ b t lục 95 đến b t lục 104) thể hiện để đòi được nợ, các bị cáo đã thực hiện hành vi phạm t i đối v i anh Quang M và gia đình anh Quang M như bản án hình sự sơ th m đã nêu; Tại bản tự khai và những lời khai ban đ u của các bị cáo (b t lục 24, 25, 56, 57); biên bản đối chất giữa anh Quang M và các bị cáo Đỗ Hoàng L, Tr n Ái M (B t lục 137 đến 140); lời khai của những người làm chứng, người liên quan như ông Phạm Văn T (cha anh Quang M), chị Nguyễn Ngọc Trâm A (vợ anh Quang M) và anh Lê Anh Q (bạn anh Quang M) đều cho thấy chỉ vì muốn lấy nợ (đòi được nợ) mà bị cáo L và đ ng phạm đã đánh và chích điện vào người anh Quang M, sau đó còn điện thoại, nhắn tin đe dọa thậm chí cho người (bị cáo M) đi đến trư c c a nhà anh Quang M và gia đình anh Quang M nhiều l n trong ngày 19/10/2015 để nhằm mục đích bu c trả nợ. Việc các bị cáo cho rằng trong quá trình điều tra đã bị Điều tra viên, cán b điều tra đánh đập, m m cung là không có căn cứ, không phù hợp v i các tình tiết khách quan của vụ án (N i dung này cũng đã được các bị cáo nêu và cấp sơ th m cũng đã trả h sơ để yêu c u làm rõ nhưng không có cơ sở). Do đó, kháng cáo của các bị cáo là không có căn cứ chấp nhận.

Hành vi phạm t i của các bị cáo là nguy hiểm cho xã h i, xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, cách thức thực hiện hành vi phạm t i của các bị cáo mang tính côn đ theo kiểu xã h i đen, xem thường sức khỏe người khác, xem thường pháp luật, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự trị an tại địa phương. Do đó, c n có mức án nghiêm để trừng trị, giáo dục các bị cáo đ ng thời có tác dụng răn đe, phòng ngừa chung.

Trong vụ án này, bị cáo Đỗ Hoàng L là người khởi xư ng, trực tiếp đánh và đe dọa người bị hại, còn bị cáo Tr n Ái M là người gi p sức tích cực nên cấp sơ th m đã x phạt bị cáo Đỗ Hoàng L 05 (Năm) năm tù, bị cáo Tr n Ái M 03 (Ba) năm tù là phù hợp, tương xứng v i tính chất, mức đ hành vi phạm t i mà các bị cáo đã gây ra, đủ để răn đe và phòng ngừa chung.

Xét quan điểm bào chữa của luật sư tại phiên tòa về việc c n thu giữu điện thoại di đ ng của các bị cáo để làm rõ n i dung tin nhắn, có hay không việc bị đe dọa là không c n thiết bởi lẽ hành vi phạm t i của các bị cáo đã được thể hiện rõ trong h sơ vụ án qua đơn tố cáo, qua lời khai người bị hại và những người liên quan. Việc phản cung của các bị cáo và thay đổi lời khai của người bị hại tại phiên tòa không làm thay đổi bản chất của sự việc, vụ án. Điện thoại di đ ng không thu giữ được trong quá trình điều tra cũng được thể hiện trong h sơ vụ án nên việc luật sư đề nghị phải thu giữ điện thoại để làm rõ n i dung tin nhắn là không c n thiết. Vì vậy, bác đề nghị của luật sư.

Xét quan điểm của đại diện VKS tại phiên tòa phù hợp v i nhận định của HĐXX nên được chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

Căn cứ điểm a khoản 2 Điều 248 B luật tố tụng hình sự.

QUYẾT ĐỊNH

Chấp nhận việc r t kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đ ng Nai.

Không chấp nhận kháng cáo của các bị cáo Đỗ Hoàng L và Tr n Ái M, giữ nguyên bản án sơ th m.

Áp dụng điểm d khoản 2 Điều 135 BLHS; khoản 2 Điều 46 BLHS; Điều 53 BLHS; khoản 2 Điều 51 BLHS.

X phạt: Bị cáo Đỗ Hoàng L 05 (Năm) năm tù về t i “Cưỡng đoạt tài sản”.

Tổng hợp v i hình phạt 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù về t i “Cố ý gây thương tích” tại bản án hình sự ph c th m số 245/2016/HSPT ngày 12 tháng 9 năm 2016 của Tòa án nhân dân tỉnh Đ ng Nai.

Bu c bị cáo L phải chấp hành hình phạt chung là 07 (Bảy) năm 06 (Sáu) tháng tù.

Thời hạn chấp hành hình phạt tính từ ngày 09/11/2015.

X phạt: Bị cáo Trần Ái M 03 (Ba) năm tù về t i “Cưỡng đoạt tài sản. Thời hạn chấp hành hình phạt tính từ ngày 26/01/2016.

Về án phí: Mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đ ng án phí hình sự ph c th m.

Các quyết định khác của bản án sơ th m không có kháng cáo, không bị kháng nghị có hiệu lực pháp luật.

Bản án ph c th m có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.

Cỡ chữ