- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "BÀ LÊ THI KIM P TRANH CHẤP LY HÔN ÔNG NGUYỄN VĂN T"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Lê Thị Kim P.
- Căn cứ chính? Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂY SƠN TỈNH BÌNH ĐỊNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 254/2024/HNGĐ-ST Ngày: 20-9-2024 V/v tranh chấp ly hôn. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂY SƠN, TỈNH BÌNH ĐỊNH
-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Triều.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Trần Thị Lan;
2. Ông Bùi Đức Thuận.
-Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Ngọc Nữ - Cán bộ Tòa án nhân dân huyện Tây Sơn, tỉnh Bình Định.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tây Sơn tham gia phiên tòa: Bà Bùi Kim Châu Nghĩa – Kiểm sát viên.
Ngày 20 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Tây Sơn xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 82/2024/TLST-HNGĐ ngày 24 tháng 4 năm 2024 về việc: “Tranh chấp ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 74/2024/QĐST-HNGĐ ngày 16 tháng 8 năm 2024; Quyết định hoãn phiên tòa số 01/2024/QĐST-HNGĐ ngày 05 tháng 9 năm 2024 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Bà Lê Thị Kim P, sinh năm 1978 (có đơn xin xét xử vắng mặt);
Địa chỉ: thôn G, xã T, huyện Tây Sơn, tỉnh Bình Định.
2. Bị đơn: Ông Nguyễn Văn T, sinh năm 1973 (vắng mặt lần 02 không rõ lý do);
Địa chỉ: thôn G, xã T, huyện Tây Sơn, tỉnh Bình Định.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện ngày 04 tháng 4 năm 2024, bản tự khai và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn là bà Lê Thị Kim P trình bày:
Bà và ông Nguyễn Văn T tự nguyện tìm hiểu nhau, có tổ chức lễ cưới theo phong tục Việt Nam. Vợ chồng bà có đăng ký kết hôn vào ngày 17 tháng 4 năm 1998 tại UBND xã T.
Sau khi cưới, vợ chồng chung sống hạnh phúc được một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân do tính tình không hợp nhau, bất đồng quan điểm sống, thường xảy ra tranh cãi. Ông T thường xuyên chửi mắng bà, trước đó ông còn đánh đập bà nhưng sau lần bà nộp đơn ly hôn thứ nhất ông hứa sửa đổi và không đánh bà nữa nhưng vẫn tiếp tục tra tấn tinh thần bà bằng việc chửi mắng mỗi ngày. Bà đã cố gắng vì các con, các con nay đã khôn lớn và có gia đình nhưng ông T vẫn chứng nào tật nấy, chửi mắng bà mỗi ngày nên bà không thể chịu đựng được cuộc sống như vậy. Bà nộp đơn ly hôn này là lần thứ 3 và lần này bà yêu cầu được ly hôn với ông Nguyễn Văn T.
-Về con chung: Vợ chồng có 02 con chung tên Nguyễn Thị Mỹ H, sinh ngày 07/7/1999 và Nguyễn Trường V, sinh ngày 07/6/2001. Các con chung đã trưởng thành nên bà không yêu cầu Toà giải quyết.
-Về tài sản chung: Bà không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tại phiên tòa hôm nay, bị đơn ông Nguyễn Văn T vắng mặt lần thứ hai không có lý do.
Về các thủ tục giải quyết vụ án ly hôn đã được Tòa án nhân dân huyện Tây Sơn thực hiện việc cấp, tống đạt, thông báo, niêm yết các văn bản tố tụng theo đúng quy định tại Điều 177 của Bộ luật Tố tụng Dân sự. Ông T đã được Tòa án triệu tập hợp lệ để làm việc, hòa giải, tiếp cận và công khai chứng cứ nhưng vẫn vắng mặt không có lý do, không có văn bản hoặc quan điểm gửi đến Tòa án; không cung cấp tài liệu, chứng cứ theo yêu cầu của Tòa án. Như vậy ông T không xem trọng cuộc hôn nhân giữa ông và bà P. Nên Tòa án quyết định đưa vụ án ra xét xử theo quy định của pháp luật.
Theo xác nhận ngày 24/4/2024 của Công an xã T, huyện Tây Sơn, tỉnh Bình Định: Ông Nguyễn Văn T, sinh năm 1973, có đăng ký hộ khẩu thường trú tại thôn G, xã T, huyện Tây Sơn, tỉnh Bình Định. Ông T có mặt tại địa phương.
Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tây Sơn phát biểu ý kiến:
Về việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét từ khi Tòa thụ lý đến trước khi Hội đồng xét xử nghị án là có căn cứ, đúng theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự; việc chấp hành pháp luật tố tụng của các đương sự đúng theo quy định.
Nguyên đơn bà Lê Thị Kim P có đơn xin xét xử vắng mặt; bị đơn ông Nguyễn Văn T đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt không có lý do. Căn cứ quy định tại Điều 227, 228 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015 Tòa án vẫn tiến hành xét xử là đúng quy định của pháp luật.
Về nội dung vụ án: Vị đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ các Điều 147, 227, 228, 273 của Bộ luật Tố tụng Dân sự 2015; Áp dụng các Điều 8, 9, 56 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 tuyên xử: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Lê Thị Kim P. Về hôn nhân: Bà Lê Thị Kim P được ly hôn ông Nguyễn Văn T. Về con chung: Vợ chồng có 02 con chung tên Nguyễn Thị Mỹ H, sinh ngày 07/7/1999 và Nguyễn Trường V sinh ngày 07/6/2001; các con đã trưởng thành, bà P không yêu cầu Tòa án giải quyết nên miễn xét. Về tài sản chung, nợ chung: Bà P không yêu cầu Tòa án giải quyết nên miễn xét. Án phí hôn nhân sơ thẩm: Đương sự phải chịu theo quy định pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, ý kiến phát biểu của Kiểm sát viên tham gia phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về tố tụng: Nguyên đơn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện. Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là vụ án Hôn nhân và Gia đình khởi kiện ly hôn. Bị đơn ông Nguyễn Văn T có đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở hiện nay thôn G, xã T, huyện Tây Sơn, tỉnh Bình Định. Do đó, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Tây Sơn, tỉnh Bình Định theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015.
Tại phiên tòa sơ thẩm, bà Lê Thị Kim P có đơn xét xử vắng mặt; ông Nguyễn Văn T đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai để tham gia phiên tòa nhưng vẫn vắng mặt không có lý do. Căn cứ quy định tại Điều 227, khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng Dân sự 2015, Tòa án vẫn tiến hành xét xử vụ án.
Về nội dung vụ án:
Quan hệ hôn nhân: Bà Lê Thị Kim P và ông Nguyễn Văn T là hôn nhân tự nguyện, có tổ chức lễ cưới và có đăng ký kết hôn tại Uỷ ban nhân dân xã Tây Giang, huyện Tây Sơn, tỉnh Bình Định ngày 12/4/1998 nên được công nhận là hôn nhân hợp pháp theo quy định tại Điều 8, 9 Luật hôn nhân và Gia đình năm 2014.
Sau khi cưới, vợ chồng chung sống hạnh phúc được một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân do tính tình không hợp nhau, bất đồng quan điểm sống, thường xảy ra tranh cãi. Ông T thường xuyên chửi mắng bà, trước đó ông còn đánh đập bà nhưng sau lần bà nộp đơn ly hôn thứ nhất ông hứa sửa đổi và không đánh bà nữa nhưng vẫn tiếp tục tra tấn tinh thần bà bằng việc chửi mắng mỗi ngày. Bà đã cố gắng vì các con, các con nay đã khôn lớn và có gia đình nhưng ông Tèo vẫn chứng nào tật nấy, chửi mắng bà mỗi ngày...Nay tình cảm vợ chồng không còn, hôn nhân không được hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt được, nên bà yêu cầu ly hôn ông Nguyễn Văn T.
Mặc dù ông Nguyễn Văn T đã được Tòa án nhân dân huyện Tây Sơn tống đạt hợp lệ thông báo thụ lý vụ án, giấy triệu tập nhiều lần để làm việc, hòa giải tiếp cận và công khai chứng cứ và tham gia phiên tòa nhưng ông T vẫn vắng mặt không có lý do. Việc ông T không đến Tòa làm việc, không có quan điểm gửi đến Tòa án chứng tỏ ông T không có trách nhiệm với hôn nhân của chính mình. Như vậy, có căn cứ xác định hôn nhân giữa bà P và ông T không có hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt được; do đó, căn cứ khoản 1 Điều 56 của luật Hôn nhân và gia đình nên Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của bà P.
Về con chung: Vợ chồng có 02 con chung tên Nguyễn Thị Mỹ H, sinh ngày 07/7/1999 và Nguyễn Trường V sinh ngày 07/6/2001. Các con chung đã trưởng thành, bà P không yêu cầu Toà giải quyết nên miễn xét.
Về tài sản chung, nợ chung: Bà Phượng không yêu cầu nên miễn xét.
Về án phí ly hôn sơ thẩm: Căn cứ vào quy định tại Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự và Nghị Quyết số 326/2016/ UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội cần buộc bà Lê Thị Kim P phải nộp 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) nhưng được trừ Lê Thị Kim Phượng khoản tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai số 0003591ngày 22/4/2024 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Tây Sơn; bà P đã nộp xong án phí.
Lời phát biểu ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tây Sơn tại phiên tòa là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử.
Các đương sự được quyền kháng cáo bản án theo quy định tại Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng Dân sự.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 147; Điều 273; Điều 227; khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng Dân sự 2015;
Áp dụng các Điều 8, 9, 56 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014;
Áp dụng Nghị Quyết số 326/2016/ UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội;
Tuyên xử:
1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Lê Thị Kim P.
- Về quan hệ hôn nhân: Bà Lê Thị Kim P được ly hôn với ông Nguyễn Văn T.
- Về con chung: Vợ chồng có 02 con chung tên Nguyễn Thị Mỹ H, sinh ngày 07/7/1999 và Nguyễn Trường V, sinh ngày 07/6/2001. Các con chung đã trưởng thành, bà P không yêu cầu Toà giải quyết nên miễn xét.
- Về tài sản chung, nợ chung: Bà P không yêu cầu Tòa án giải quyết nên miễn xét.
2. Về án phí ly hôn sơ thẩm: Bà Lê Thị Kim P phải nộp 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) nhưng được trừ vào khoản tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai số 0003591 ngày 22/4/2024 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Tây Sơn; bà P đã nộp xong án phí.
3. Quyền kháng cáo: Đương sự có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được Bản án hoặc Bản án được niêm yết.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại cấc Điều 6, 7 và 7 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự. Nơi nhận:
T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
- TAND tỉnh Bình Định;
THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
- VKSND huyện Tây Sơn;
- Chi cục THA dân sự huyện Tây Sơn;
(Đã ký)
- UBND xã Bình Nghi;
- Các đương sự;
- Lưu hồ sơ vụ án
Nguyễn Thị Triều
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Bình Định; - VKSND huyện Tây Sơn; - Chi cục THA dân sự huyện Tây Sơn; - UBND xã Bình Nghi; - Các đương sự; - Lưu hồ sơ vụ án | T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Triều |