vanban.org

Bản án 254/2024/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên xử: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Hoàng Thị C.

Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Hoàng Thị C được ly hôn với anh Lý Văn C. Về con chung: Giao cháu Lý Văn V, sinh ngày 16/01/2010 cho anh Lý Văn C trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục; Chị Hoàng Thị C không phải cấp dưỡng nuôi con chung cùng anh Lý Văn C và có quyền, nghĩa vụ đi lại th… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Hoàng Thị C - Lý Văn C"
  • Tòa quyết gì? Tuyên xử: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Hoàng Thị C.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 179 Bộ luật Tố tụng dân sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN HÀM YÊN
TỈNH TUYÊN QUANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 254/2024/HNGĐ-ST
Ngày: 12 - 9 - 2024
“V/v: Tranh chấp hôn nhân gia đình”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÀM YÊN, TỈNH TUYÊN QUANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Đức Tùng.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Nông Thị Hương.

2. Ông Hoàng Huy Phúc.

- Thư ký phiên toà: Bà Phạm Thị Thu Hương - Thư ký Toà án nhân dân huyện Hàm Yên, tỉnh Tuyên Quang.

- Đại diện Viện kiếm sát nhân dân huyện Hàm Yên, tỉnh Tuyên Quang tham gia phiên tòa: Bà Hứa Như Quỳnh - Kiểm sát viên.

Ngày 12/9/2024 tại Trụ sở Toà án nhân dân huyện Hàm Yên, tỉnh Tuyên Quang mở phiên toà xét xử sơ thẩm công khai theo hình thức số hóa hồ sơ vụ án dân sự thụ lý số 178/2024/TLST-HNGĐ ngày 19 tháng 6 năm 2024 về việc “Tranh chấp hôn nhân và gia đình”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 48/2024/QĐXXST-HNGĐ, ngày 12/8/2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 39/2024/QĐST-HNGĐ ngày 28/8/2024 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Hoàng Thị C, sinh năm 1988.

- Bị đơn: Anh Lý Văn C, sinh năm 1975.

Cùng nơi cư trú: Thôn T, xã H, huyện H, tỉnh Tuyên Quang.

(Chị C vắng mặt và có đơn đề nghị xét xử vắng mặt; Anh C đã được Tòa án triệu tập, niêm yết các văn bản tố tụng hợp lệ nhiều lần nhưng tại phiên tòa vắng mặt không có lý do).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Theo nội dung đơn khởi kiện, bản tự khai và biên bản lấy lời khai (bổ sung), nguyên đơn chị Hoàng Thị C trình bày:

- Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh Lý Văn C được tự do tìm hiểu, chung sống cùng nhau và được hai bên gia đình tổ chức đám cưới vào năm 2006, có đăng ký kết hôn theo quy định ngày 14/8/2009 tại UBND xã H, huyện H, tỉnh Tuyên Quang, việc kết hôn là hoàn toàn tự nguyện. Quá trình chung sống vợ chồng trong thời gian đầu chung sống hạnh phúc bình thường, một thời gian sau đó đi làm ăn thì vợ chồng phát sinh mâu thuẫn không còn tình cảm. Nguyên nhân mâu thuẫn của vợ chồng là do tính tình vợ chồng không hợp nhau, luôn bất đồng quan điểm sống, vợ chồng không thống nhất trong làm ăn phát triển kinh tế gia đình dẫn đến thường xuyên cãi chửi nhau, không tin tưởng nhau. Chị xác định không còn tình cảm với anh Các, mâu thuẫn vợ chồng giữa chị với anh Các đã quá căng thẳng, trầm trọng, không thể đoàn tụ xây dựng hạnh phúc gia đình và nuôi dạy con cái. Thực tế chị và anh Các đã sống ly thân nhau từ năm 2020 mỗi người một nơi, không ai quan tâm gì đến nhau. Chị đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Lý Văn C theo quy định pháp luật.

- Về con chung: Chị và anh Lý Văn C có 02 con chung là Lý Văn Q, sinh ngày 29/6/2006 và Lý Văn V, sinh ngày 16/01/2010. Ly hôn chị nhất trí để anh C được trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục con chung Lý Văn Vinh, sinh ngày 16/01/2010 đến khi trưởng thành và chị không phải cấp dưỡng nuôi con chung cùng anh Lý Văn C; Còn cháu Lý Văn Q, sinh ngày 29/6/2006 hiện nay đã trưởng thành trên 18 tuổi sức khỏe phát triển bình thường nên chị không đề nghị giải quyết khi ly hôn.

- Về tài sản chung, đất đia chung: Chị và anh Lý Văn C tự thỏa thuận chị không đề nghị Tòa án giải quyết khi ly hôn.

- Về công nợ chung: Chị và anh Lý Văn C không vay nợ ai, không cho ai vay nợ, không đề nghị Tòa án giải quyết khi ly hôn.

Chị Hoàng Thị C xác định anh Lý Văn C đã biết và được chị trực tiếp thông báo về việc chị gửi đơn đến Toà án nhân dân huyện Hàm Yên để giải quyết việc ly hôn giữa chị với anh C, nhưng anh C cố tình trốn tránh nghĩa vụ không đến Toà án làm việc.

Tại phiên tòa, chị Hoàng Thị C vắng mặt và có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Tại đơn đề nghị xét xử vắng mặt, chị C giữ nguyên ý kiến đã trình bày nêu trên, không thay đổi, bổ sung thêm nội dung gì khác.

* Đối với bị đơn anh Lý Văn C:

Quá trình thụ lý và giải quyết vụ án, Tòa án nhân dân huyện Hàm Yên đã gửi Thông báo thụ lý vụ án số 178/2024/TLST-HNGĐ ngày 19/6/2024; Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 48/2024/QĐXXST-HNGĐ, ngày 12/8/2024 và các văn bản tố tụng khác cho anh Lý Văn C biết, báo gọi anh C nhiều lần đến Tòa án giải quyết vụ án nhưng anh C không trực tiếp đến Tòa án làm việc. Toà án đã phối hợp với đại diện thôn T, xã H trực tiếp đến nơi cư trú, nơi đăng ký hộ khẩu thường trú của anh C để lấy lời khai và làm việc nhưng anh C thường xuyên không có mặt ở nhà. Tòa án đã tiến hành làm việc với đại diện chính quyền địa phương (thôn T, xã H) để trực tiếp thông báo về việc chị Hoàng Thị C gửi đơn đến Toà án nhân dân huyện Hàm Yên để giải quyết việc ly hôn giữa chị C với anh C, nhưng anh C cố tình trốn tránh nghĩa vụ không đến Toà án làm việc. Như vậy người bị khởi kiện là anh Lý Văn C đã cố tình trốn tránh nghĩa vụ nên Tòa án tiến hành thụ lý và giải quyết vụ án theo thủ tục chung theo quy định tại điểm e khoản 1 Điều 192 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Toà án tiến hành lấy lời khai của cháu Lý Văn V, sinh ngày 16/01/2010 (là con chung của chị Hoàng Thị C và anh Lý Văn C), cháu V trình bày khi bố mẹ cháu giải quyết ly hôn, cháu có nguyện vọng được trực tiếp ở cùng với bố cháu là Lý Văn C, cháu tự nguyện ở với bố của cháu và không bị ai ép buộc gì.

Tòa án xác minh tại địa phương thôn T, xã H, huyện H được cung cấp: Hiện nay chị Hoàng Thị C và anh Lý Văn C là công dân đăng ký hộ khẩu thường trú tại thôn T, xã H, huyện H, tỉnh Tuyên Quang. Chị C và anh C có được tìm hiểu và có đăng ký kết hôn với nhau theo quy định, việc kết hôn là hoàn toàn tự nguyện, không bị ai ép buộc và được hai bên gia đình tổ chức đám cưới theo phong tục tập quán của địa phương. Tình cảm vợ chồng trong thời gian đầu chung sống hạnh phúc bình thường, đến năm 2020 vợ chồng chị C và anh C thường xuyên mâu thuẫn căng thẳng không chung sống cùng nhau nữa. Theo chính quyền được biết thì do chị C và anh C xảy ra mâu thuẫn với nhau, nguyên nhân là do tính tình vợ chồng không hợp nhau, luôn bất đồng quan điểm sống, vợ chồng không thống nhất trong làm ăn phát triển kinh tế gia đình. Anh C vẫn thường xuyên sinh sống tại địa phương nơi cư trú, đồng thời đại diện thôn T, xã H cũng xác định: Địa phương đã nhận được Thông báo thụ lý vụ án số 178/2024/TLST-HNGĐ ngày 19/6/2024 của Tòa án về việc giải quyết ly hôn giữa chị C và anh C, do Tòa án nhân dân huyện Hàm Yên gửi nhờ địa phương giao, tống đạt trực tiếp cho anh C biết nội dung. Tuy nhiên do anh C thường xuyên đi làm ít ở nhà, đại diện thôn T đã trực tiếp thông báo lại cho anh C biết và tiến hành niêm yết Thông báo thụ lý vụ án và các văn bản tố tụng khác của Tòa án theo quy định pháp luật. Nay chị C làm đơn xin ly hôn với anh C, quan điểm của địa phương là đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định pháp luật.

Về tài liệu, chứng cứ: Các đương sự cung cấp cho Tòa án các tài liệu, chứng cứ gồm:

- Nguyên đơn chị Hoàng Thị C cung cấp cho Tòa án: 01 Đơn khởi kiện; 01 Giấy chứng nhận kết hôn (bản chính); 01 Căn cước công dân mang tên Hoàng Thị C (bản sao chứng thực); 02 Giấy khai sinh mang tên Lý Văn Q và Lý Văn V (bản sao chứng thực); 01 xác nhận thông tin cư trú của Công an xã Hùng Đức (bản chính); 01 Đơn xin miễn nộp tiền tạm ứng án phí, án phí (bản gốc).

- Bị đơn anh Lý Văn C cung cấp cho Tòa án: Không có.

Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án nhân dân huyện Hàm Yên đã tống đạt hợp lệ giấy triệu tập và các văn bản tố tụng khác, thông báo anh Lý Văn C đến Tòa án làm việc để tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải theo quy định pháp luật. Tuy nhiên các lần thông báo của Tòa án anh C đều không đến làm việc nên Tòa án không tiến hành hòa giải được cho các bên đương sự suy nghĩ lại tình cảm để quay về hàn gắn, đoàn tụ xây dựng hạnh phúc gia đình. Vì vậy Tòa án ra Quyết định đưa vụ án ra xét xử theo quy định chung của pháp luật.

* Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát:

- Về tố tụng: Đại diện Viện kiểm sát phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử và Thư ký phiên tòa trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước khi Hội đồng xét xử vào nghị án đều đảm bảo đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự;

- Về việc chấp hành pháp luật của các đương sự: Nguyên đơn chị Hoàng Thị C chấp hành tốt các quy định của pháp luật; Bị đơn anh Lý Văn C đã được Tòa án tống đạt các văn bản tố tụng nhiều lần nhưng đều vắng mặt không đến Tòa án làm việc nên Tòa án đã tiến hành niêm yết hợp lệ các văn bản tố tụng cho anh C theo quy định pháp luật. Vì vậy có thể xác định anh Lý Văn C đã cố tình trốn tránh nghĩa vụ của mình, nên vụ án được giải quyết theo thủ tục chung.

- Về việc giải quyết vụ án: Đại diện Viện kiểm sát đề nghị HĐXX áp dụng khoản 1 Điều 28, Điều 35, Điều 39, Điều 147, Điều 179, điểm e khoản 1 Điều 192; các Điều 227, 228, 235, 238, 266, 267, 271, 273 Bộ luật tố tụng dân sự; Các Điều 56, 81, 82, 83, 84 Luật hôn nhân và gia đình; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên xử:

Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Hoàng Thị C.

- Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Hoàng Thị C được ly hôn với anh Lý Văn C.

- Về con chung: Giao cháu Lý Văn V, sinh ngày 16/01/2010 cho anh Lý Văn C trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục; Chị Hoàng Thị C không phải cấp dưỡng nuôi con chung cùng anh Lý Văn C và có quyền, nghĩa vụ đi lại thăm nom, chăm sóc con chung mà không ai được cản trở; Các đương sự có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con sau ly hôn.

- Về án phí: Chị Hoàng Thị C phải chịu tiền án phí ly hôn sơ thẩm nhưng thuộc trường hợp được miễn nên đề nghị miễn án phí cho chị C theo quy định của pháp luật; Anh Lý Văn C không phải chịu tiền án phí.

Ngoài ra, đại diện Viện kiểm sát còn đề nghị Hội đồng xét xử tuyên quyền kháng cáo bản án của các đương sự theo quy định của pháp luật.

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, ý kiến của đương sự, ý kiến của Kiểm sát viên.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

. Về tố tụng:

- Về thẩm quyền: Chị Hoàng Thị C có đơn khởi kiện đề nghị Tòa án giải quyết ly hôn với anh Lý Văn C nên xác định đây là vụ án “Tranh chấp về hôn nhân và gia đình” theo quy định tại Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự; Theo thông tin chị C cung cấp và Tòa án xác minh thì hiện nay bị đơn anh Lý Văn C là công dân đăng ký hộ khẩu thường trú và cư trú tại thôn T, xã H, huyện H, tỉnh Tuyên Quang nên vụ án này thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Hàm Yên, tỉnh Tuyên Quang theo quy định tại khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.

- Về việc vắng mặt của bị đơn anh Lý Văn C tại phiên tòa: Qua xác minh tại địa phương nơi anh C cư trú và chính quyền địa phương cung cấp: Anh C vẫn thường xuyên cư trú tại địa phương. Trước khi chị C nộp đơn ly hôn lên Tòa án thì chị C đã thông báo cho anh C biết việc chị sẽ làm đơn ly hôn với anh C gửi Tòa án giải quyết, anh C biết nhưng không đến Tòa án làm việc. Vì vậy Tòa án đã tiến hành các thủ tục theo quy định pháp luật về thụ lý vụ án, mở phiên họp công khai chứng cứ, xét xử thông qua chị Hoàng Thị C (vợ anh C) và chính quyền tại địa phương. Như vậy người bị kiện là anh Lý Văn C đã cố tình trốn tránh nghĩa vụ nên Tòa án tiến hành thụ lý và giải quyết vụ án theo thủ tục chung theo quy định tại điểm e khoản 1 Điều 192 Bộ luật Tố tụng dân sự. Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt anh Lý Văn C theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự.

. Về quan hệ hôn nhân: Chị Hoàng Thị C và anh Lý Văn C được tự do tìm hiểu và đăng ký kết hôn với nhau vào ngày 14/8/2009 tại UBND xã H, huyện H, tỉnh Tuyên Quang, việc kết hôn là hoàn toàn tự nguyện, không bị ai ép buộc và được hai bên gia đình tổ chức đám cưới theo phong tục tập quán của địa phương. Như vậy, quan hệ hôn nhân của chị C và anh C là hợp pháp.

Quá trình chung sống tình cảm vợ chồng trong thời gian đầu chung sống hạnh phúc bình thường, sau đó vợ chồng đi làm ăn xa nên xảy ra mâu thuẫn và sống ly thân cho đến nay. Nguyên nhân mâu thuẫn giữa chị C và anh C là do tính tình vợ chồng không hợp nhau, luôn bất đồng quan điểm sống, vợ chồng không thống nhất trong làm ăn phát triển kinh tế gia đình. Chị C xác định không còn tình cảm với anh C, mâu thuẫn vợ chồng đã quá căng thẳng, trầm trọng, không thể đoàn tụ xây dựng hạnh phúc gia đình và nuôi dạy con cái. Thực tế chị C và anh C đã sống ly thân nhau mỗi người một nơi, không ai quan tâm thăm hỏi gì đến nhau nữa. Hội đồng xét xử xét thấy mâu thuẫn vợ chồng giữa chị C và anh C đã quá căng thẳng trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được, vợ chồng không thể đoàn tụ để xây dựng hạnh phúc gia đình và nuôi dậy con cái. Vì vậy, cần chấp nhận yêu cầu của chị Hoàng Thị C và xử cho chị C được ly hôn với anh Lý Văn C theo quy định của pháp luật.

Về con chung: Chị Hoàng Thị C và anh Lý Văn C có 02 con chung là Lý Văn Q, sinh ngày 29/6/2006 và Lý Văn V, sinh ngày 16/01/2010.

- Đối với con chung Lý Văn Q, sinh ngày 29/6/2006 đã đủ 18 tuổi trưởng thành, sức khỏe phát triển bình thường và có khả năng tự lao động được, chị C không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.

- Đối với con chung Lý Văn V: Từ khi vợ chồng anh chị sống ly thân đến nay cháu V vẫn trực tiếp ở cùng anh Lý Văn C và do anh C trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục; Căn cứ kết quả xác minh tại địa phương thì cuộc sống của cháu V vẫn đảm bảo cả về tinh thần, vật chất và được học tập đầy đủ khi ở với anh Lý Văn C; Chị Hoàng Thị C nhất trí để anh C được trực tiếp nuôi cháu V đến khi trưởng thành và chị không phải cấp dưỡng nuôi con chung cùng anh C; Cháu Lý Văn V có nguyện vọng được ở cùng với bố đẻ là anh Lý Văn C. Để đảm bảo quyền lợi và sự phát triển về mọi mặt của cháu V, qua xem xét ý kiến của chị C và cháu V. Hội đồng xét xử thấy rằng cần giao cháu Lý Văn V, sinh ngày 16/01/2010 cho anh Lý Văn C được trực tiếp trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục là phù hợp với quy định của pháp luật. Về việc cấp dưỡng nuôi con chung: Do anh Lý Văn C không đến Tòa án làm việc nên không xác định được anh C có yêu cầu chị C cấp dưỡng nuôi con chung không. Do đó, Hội đồng xét xử xét không xem xét, giải quyết.

Về tài sản chung, đất đai chung: Chị Hoàng Thị C xác định vợ chồng tự thỏa thuận không đề nghị Toà án giải quyết nên HĐXX không xem xét, giải quyết.

Về công nợ chung: Chị Hoàng Thị C xác định vợ chồng không vay nợ ai, không cho ai vay nợ, không đề nghị Toà án giải quyết nên HĐXX không xem xét.

Về án phí: Chị Hoàng Thị C phải chịu toàn bộ tiền án phí ly hôn sơ thẩm, tuy nhiên chị Chăng thuộc trường hợp được miễn số tiền án phí ly hôn sơ thẩm trên theo quy định của pháp luật; Anh Lý Văn C không phải chịu tiền án phí.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào: Khoản 1 Điều 28, Điều 35, Điều 39, Điều 147, Điều 179, điểm e khoản 1 Điều 192; các Điều 227, 228, 235, 238, 266, 267, 271, 273 Bộ luật tố tụng dân sự; Các Điều 56, 81, 82, 83, 84 Luật hôn nhân và gia đình; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Hoàng Thị C.

1. Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Hoàng Thị C được ly hôn với anh Lý Văn C.

2. Về con chung: Giao cháu Lý Văn V, sinh ngày 16/01/2010 cho anh Lý Văn C trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục; Chị Hoàng Thị C không phải cấp dưỡng nuôi con chung cùng anh Lý Văn C và có quyền, nghĩa vụ đi lại thăm nom, chăm sóc con chung mà không ai được cản trở; Các đương sự có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con sau ly hôn.

3. Về án phí:

+ Nguyên đơn: Chị Hoàng Thị C phải chịu 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) tiền án phí ly hôn sơ thẩm nhưng chị C được miễn toàn bộ số tiền án phí ly hôn sơ thẩm trên do thuộc trường hợp là người dân tộc thiểu số (dân tộc Dao) cư trú tại thôn T, xã H, huyện H, tỉnh Tuyên Quang là địa bàn có điều kiện kinh tế xã hội đặc biệt khó khăn theo quy định của pháp luật.

+ Bị đơn anh Lý Văn C không phải nộp án phí.

4. Về quyền kháng cáo: Chị Hoàng Thị C và anh Lý Văn C được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Cỡ chữ