vanban.org

Bản án 254/2024/DS-PT — Tranh chấp về hụi, họ, biêu, phường

TAND tỉnh Tiền Giang Tuyên án 10/05/2024 Dân sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 10/05/2024 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp về hụi, họ, biêu, phường — án dân sự — "Nguyễn Thị T - Huỳnh Thị M"
  • Căn cứ chính? Điều 16 Nghị định số 19/2019/NĐ-CP Về họ, hụi, biêu, phường; Điều 18 Nghị định số 19/2019/NĐ-CP Về họ, hụi, biêu, phường; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH TIỀN GIANG
——————————

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 254/2024/DS-PT
Ngày: 10 – 05 - 2024
V/v tranh chấp “Hợp đồng góp hụi”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TIỀN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Thanh Vân.

Các Thẩm phán:

Bà Nguyễn Thanh Nhàn.

Bà Đỗ Thị Minh Nguyệt.

- Thư ký phiên tòa: Bà Bùi Vũ Tố Trang, Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Tiền Giang.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Tiền Giang: Bà Mai Thị Đào Quyên

- Kiểm sát viên tham gia phiên tòa.

Ngày 10 tháng 05 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Tiền Giang xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số: 178/2024/TLPT-DS ngày 02 tháng 04 năm 2024 về tranh chấp “Hợp đồng góp hụi”.

Do Bản án dân sự sơ thẩm số: 06/2024/DS-ST ngày 16 tháng 01 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện C, tỉnh Tiền Giang bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số:164/2024/QĐ-PT ngày 09 tháng 04 năm 2024 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị T, sinh năm 1970 (có mặt);

Địa chỉ: Ấp H, xã M, huyện C, tỉnh Tiền Giang.

2. Bị đơn:

2.1. Chị Huỳnh Thị M, sinh năm 1977 (có mặt);

2.2. Anh Trần Văn V, sinh năm 1975 (có mặt);

Cùng địa chỉ: Ấp H, xã M, huyện C, tỉnh Tiền Giang.

4. Người kháng cáo: Bị đơn Trần Văn V, Huỳnh Thị M.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo án sơ thẩm,

Nguyên đơn chị Nguyễn Thị T trình bày:

Từ năm 2018 đến năm 2022 vợ chồng chị Huỳnh Thị M và anh Trần Văn V có tổ chức chơi nhiều dây hụi, chị tham gia nhiều dây hụi với tên trong giấy hụi là Thếm Tư M1, cụ thể như sau:

* Hụi mùa:

1. Dây hụi 5.000.000 đồng khui hụi lần đầu vào ngày 31/03/2018 (Ngày 15/02/2018 âm lịch), 03 tháng khui hụi một lần (một năm khui hụi 04 lần), dây hụi gồm có 23 phần, chị tham gia 01 phần. Hình thức chơi hụi là đến ngày khui hụi nếu hụi viên nào bỏ thăm cao thì hốt được hụi, còn hụi viên nào hốt hụi rồi thì mỗi kỳ khui hụi phải đóng tiền hụi chết là 5.000.000 đồng. Còn hụi viên nào hốt được hụi thì phải trả tiền huê hồng cho chị M và anh V là 2.000.000 đồng.

Dây hụi này chị đã đóng tiền hụi sống được 20 lần sau đó chị M và anh V ngưng không tổ chức khui hụi nữa, cũng không trả lại tiền hụi cho chị. Dây hụi này chị M và anh V nợ chị số tiền là 100.000.000 đồng, sau đó có trả được 10.000.000 đồng còn nợ lại 90.000.000 đồng.

2. Dây hụi 5.000.000 đồng, khui hụi lần đầu vào ngày 30/01/2020 (Ngày 06/01/2020 âm lịch), 03 tháng khui hụi một lần (một năm khui hụi 04 lần), dây hụi gồm có 19 phần, chị tham gia 02 phần. Hình thức chơi hụi là đến ngày khui hụi nếu hụi viên nào bỏ thăm cao thì hốt được hụi, còn hụi viên nào hốt hụi rồi thì mỗi kỳ khui hụi phải đóng tiền hụi chết là 5.000.000 đồng. Còn hụi viên nào hốt được hụi thì phải trả tiền huê hồng cho chị M và anh V là 2.000.000 đồng.

Dây hụi này chị đã đóng tiền hụi sống được 12 lần của 02 phần hụi sau đó chị M và anh V ngưng không tổ chức khui hụi nữa, cũng không trả lại tiền hụi cho chị. Dây hụi này chị M và anh V nợ chị số tiền là 120.000.000 đồng.

3. Dây hụi 3.000.000 đồng, khui hụi lần đầu vào ngày 24/09/2019 (Ngày 26/8/2019 âm lịch), 03 tháng khui hụi một lần (01 năm khui 04 lần), dây hụi gồm có 19 phần, chị tham gia chơi 01 phần. Hình thức chơi hụi là đến ngày khui hụi nếu hụi viên nào bỏ thăm cao thì hốt được hụi, còn hụi viên nào hốt hụi rồi thì mỗi kỳ khui hụi phải đóng tiền hụi chết là 3.000.000 đồng. Còn hụi viên nào hốt được hụi thì phải trả tiền huê hồng cho chị M và anh V là 1.000.000 đồng.

Dây hụi này chị đã đóng tiền hụi sống được 13 lần sau đó chị M và anh V ngưng không tổ chức khui hụi nữa, cũng không trả lại tiền hụi cho chị. Dây hụi này chị M và anh V nợ chị số tiền là 39.000.000 đồng.

* Hụi tháng:

4. Dây hụi tháng 1.000.000 đồng, khui hụi lần đầu vào ngày 10/09/2020 âm lịch, mỗi tháng khui hụi một lần, dây hụi gồm có 32 phần, chị tham gia 01 phần.

Hình thức chơi hụi là đến ngày khui hụi nếu hụi viên nào bỏ thăm cao thì hốt được hụi, còn hụi viên nào hốt hụi rồi thì mỗi kỳ khui hụi phải đóng tiền hụi chết là 1.000.000 đồng. Còn hụi viên nào hốt được hụi thì phải trả tiền huê hồng cho chị M và anh V là 400.000 đồng.

Dây hụi này chị đã đóng tiền hụi sống được 29 lần sau đó chị M và anh V ngưng không tổ chức khui hụi nữa, cũng không trả lại tiền hụi cho chị. Dây hụi này chị M và anh V nợ chị số tiền là 29.000.000 đồng.

5. Dây hụi tháng 1.000.000 đồng, khui hụi lần đầu vào ngày 13/11/2020 âm lịch, mỗi tháng khui hụi một lần, dây hụi gồm có 30 phần, chị tham gia 01 phần. Hình thức chơi hụi là đến ngày khui hụi nếu hụi viên nào bỏ thăm cao thì hốt được hụi, còn hụi viên nào hốt hụi rồi thì mỗi kỳ khui hụi phải đóng tiền hụi chết là 1.000.000 đồng. Còn hụi viên nào hốt được hụi thì phải trả tiền huê hồng cho chị M và anh V là 400.000 đồng.

Dây hụi này chị đã đóng tiền hụi sống được 26 lần sau đó chị M và anh V ngưng không tổ chức khui hụi nữa cũng không trả lại tiền hụi cho chị. Dây hụi này chị M và anh V nợ chị số tiền là 26.000.000 đồng.

6. Dây hụi tháng 1.000.000 đồng, khui hụi lần đầu vào ngày 20/9/2021 âm lịch, mỗi tháng khui hụi một lần, dây hụi gồm có 25 phần, chị tham gia chơi 01 phần.

Hình thức chơi hụi là đến ngày khui hụi nếu hụi viên nào bỏ thăm cao thì hốt được hụi, còn hụi viên nào hốt hụi rồi thì mỗi kỳ khui hụi phải đóng tiền hụi chết là 1.000.000 đồng. Còn hụi viên nào hốt được hụi thì phải trả tiền huê hồng cho chị M và anh V là 400.000 đồng.

Dây hụi này chị đã đóng tiền hụi sống được 17 lần sau đó chị M và anh V ngưng không tổ chức khui hụi nữa, cũng không trả lại tiền hụi cho chị. Dây hụi này chị M và anh V nợ chị số tiền là 17.000.000 đồng.

7. Dây hụi tháng 1.000.000 đồng, khui hụi lần đầu vào ngày 20/10/2021 âm lịch, mỗi tháng khui hụi một lần, dây hụi gồm có 26 phần, chị tham gia 01 phần.

Hình thức chơi hụi là đến ngày khui hụi nếu hụi viên nào bỏ thăm cao thì hốt được hụi, còn hụi viên nào hốt hụi rồi thì mỗi kỳ khui hụi phải đóng tiền hụi chết là 1.000.000 đồng. Còn hụi viên nào hốt được hụi thì phải trả tiền huê hồng cho chị M và anh V là 400.000 đồng.

Dây hụi này chị đã đóng tiền hụi sống được 15 lần sau đó chị M và anh V ngưng không tổ chức khui hụi nữa, cũng không trả lại tiền hụi cho chị. Dây hụi này chị M và anh V nợ chị số tiền là 15.000.000 đồng.

8. Dây hụi tháng 1.000.000 đồng, khui hụi lần đầu vào ngày 25/01/2022 âm lịch, mỗi tháng khui hụi một lần, dây hụi gồm có 27 phần, chị tham gia 01 phần. Hình thức chơi hụi là đến ngày khui hụi nếu hụi viên nào bỏ thăm cao thì hốt được hụi, còn hụi viên nào hốt hụi rồi thì mỗi kỳ khui hụi phải đóng tiền hụi chết là 1.000.000 đồng. Còn hụi viên nào hốt được hụi thì phải trả tiền huê hồng cho chị M và anh V là 400.000 đồng.

Dây hụi này chị đã đóng tiền hụi sống được 12 lần sau đó chị M và anh V ngưng không tổ chức khui hụi nữa, cũng không trả lại tiền hụi cho chị. Dây hụi này chị M và anh V nợ chị số tiền là 12.000.000 đồng.

9. Dây hụi tháng 1.000.000 đồng, khui hụi lần đầu vào ngày 25/01/2022 âm lịch, mỗi tháng khui hụi một lần, dây hụi gồm có 27 phần, chị tham gia 01 phần.

Hình thức chơi hụi là đến ngày khui hụi nếu hụi viên nào bỏ thăm cao thì hốt được hụi, còn hụi viên nào hốt hụi rồi thì mỗi kỳ khui hụi phải đóng tiền hụi chết là 1.000.000 đồng. Còn hụi viên nào hốt được hụi thì phải trả tiền huê hồng cho chị M và anh V là 400.000 đồng.

Dây hụi này tôi đã đóng tiền hụi sống được 12 lần sau đó chị M và anh V ngưng không tổ chức khui hụi nữa, cũng không trả lại tiền hụi cho chị. Dây hụi này chị M và anh V nợ chị số tiền là 12.000.000 đồng.

10. Dây hụi tháng 2.000.000 đồng, khui hụi lần đầu vào ngày 10/04/2022 âm lịch, mỗi tháng khui hụi một lần, dây hụi gồm có 21 phần, chị tham gia 01 phần.

Hình thức chơi hụi là đến ngày khui hụi nếu hụi viên nào bỏ thăm cao thì hốt được hụi, còn hụi viên nào hốt hụi rồi thì mỗi kỳ khui hụi phải đóng tiền hụi chết là 2.000.000 đồng. Còn hụi viên nào hốt được hụi thì phải trả tiền huê hồng cho chị M và anh V là 800.000 đồng.

Dây hụi này chị đã đóng tiền hụi sống được 10 lần sau đó chị M và anh V ngưng không tổ chức khui hụi nữa, cũng không trả lại tiền hụi cho chị. Dây hụi này chị M và anh V nợ chị số tiền là 20.000.000 đồng.

11. Dây hụi tháng 1.000.000 đồng, khui hụi lần đầu vào ngày 04/3/2022 âm lịch, mỗi tháng khui hụi một lần, dây hụi gồm có 26 phần, chị tham gia chơi 01 phần.

Hình thức chơi hụi là đến ngày khui hụi nếu hụi viên nào bỏ thăm cao thì hốt được hụi, còn hụi viên nào hốt hụi rồi thì mỗi kỳ khui hụi phải đóng tiền hụi chết là 1.000.000 đồng. Còn hụi viên nào hốt được hụi thì phải trả tiền huê hồng cho chị M và anh V là 400.000 đồng.

Dây hụi này chị đã đóng tiền hụi sống được 08 lần sau đó chị M và anh V ngưng không tổ chức khui hụi nữa, cũng không trả lại tiền hụi cho chị. Dây hụi này chị M và anh V nợ chị số tiền là 8.000.000 đồng.

12. Dây hụi tháng 2.000.000 đồng, khui hụi lần đầu vào ngày 10/06/2022 âm lịch, mỗi tháng khui hụi một lần, dây hụi gồm có 21 phần, chị tham gia 01 phần.

Hình thức chơi hụi là đến ngày khui hụi nếu hụi viên nào bỏ thăm cao thì hốt được hụi, còn hụi viên nào hốt hụi rồi thì mỗi kỳ khui hụi phải đóng tiền hụi chết là 2.000.000 đồng. Còn hụi viên nào hốt được hụi thì phải trả tiền huê hồng cho chị M và anh V là 800.000 đồng.

Dây hụi này chị đã đóng tiền hụi sống được 07 lần sau đó chị M và anh V ngưng không tổ chức khui hụi nữa, cũng không trả lại tiền hụi cho chị. Dây hụi này chị M và anh V nợ chị số tiền là 14.000.000 đồng.

13. Dây hụi tháng 1.000.000 đồng, khui hụi lần đầu vào ngày 15/9/2022 âm lịch, mỗi tháng khui hụi một lần, dây hụi gồm có 21 phần, chị tham gia 02 phần.

Hình thức chơi hụi là đến ngày khui hụi nếu hụi viên nào bỏ thăm cao thì hốt được hụi, còn hụi viên nào hốt hụi rồi thì mỗi kỳ khui hụi phải đóng tiền hụi chết là 2.000.000 đồng. Còn hụi viên nào hốt được hụi thì phải trả tiền huê hồng cho chị M và anh V là 400.000 đồng.

Dây hụi này chị đã đóng tiền hụi sống được 04 lần của 02 phần hụi sau đó chị M và anh V ngưng không tổ chức khui hụi nữa, cũng không trả lại tiền hụi cho chị. Dây hụi này chị M và anh V nợ chị số tiền là 8.000.000 đồng.

Việc chị tham gia chơi hụi và đã góp hụi đầy đủ cho chị M, anh V nhưng sau đó chị M, anh V tự ngưng hụi và không trả tiền hụi cho chị đã gây thiệt hại đến quyền và lợi ích hợp pháp của chị. Nay chị yêu cầu chị M và anh V phải liên đới trả cho chị số tiền nợ hụi tổng cộng là 420.000.000 đồng, trả một lần sau khi bản án có hiệu lực pháp luật.

Ngày 23/11/2023, chị T cho rằng anh M, chị V có trả cho chị được 10.000.000 đồng của dây hụi 5.000.000 đồng khui vào ngày 31/3/2018 (Ngày 15/02/2018 âm lịch), đồng thời chị đồng ý trừ tiền huê hồng của 13 dây hụi trên cho anh V, chị M với số tiền là 10.100.000 đồng. Do đó, chị T có đơn xin rút lại một phần yêu cầu khởi kiện đối với số tiền 20.100.000 đồng. Nay chị T chỉ yêu cầu chị M, anh V trả số tiền hụi là 399.900.000 đồng, trả một lần ngay khi án có hiệu lực pháp luật.

Bị đơn chị Huỳnh Thị M, anh Trần Văn V trình bày:

Chị T có tham gia các dây hụi do vợ chồng anh chị làm đầu thảo, cụ thể các dây hụi, số phần hụi cũng như số lần mà chị T đóng tiền hụi cho anh chị, thời gian ngưng hụi như chị T trình bày là đúng. Hụi tháng 1.000.000 đồng thì trừ tiền đầu thảo là 400.000 đồng; Hụi tháng 2.000.000 đồng thì trừ tiền đầu thảo là 500.000 đồng; Hụi mùa 3.000.000 đồng thì trừ tiền đầu thảo là 1.000.000 đồng; Hụi mùa 5.000.000 đồng thì trừ tiền đầu thảo là 1.500.000 đồng.

Khi chơi hụi, anh chị không thỏa thuận sẽ đền tiền hụi. Các hụi viên muốn có tiền lãi nên mới thỏa thuận ai kêu cao sẽ hốt được hụi, trừ tiền huê hồng cho đầu thảo và đầu thảo sẽ đi gom tiền hụi của các hụi viên và giao tiền cho hụi viên hốt hụi. Nhưng do sau khi hốt hụi thì hụi viên không đóng tiền hụi nên các hụi viên tự thỏa thuận ngưng hụi và làm tờ cam kết vào ngày 13/3/2023 dương lịch chứ anh chị không tự ngưng hụi. Theo tờ cam kết thì hụi viên chưa hốt hụi sẽ bắt thăm để gom tiền hụi. Đầu thảo và những hụi viên sống sẽ đi gom tiền hụi của những hụi viên chết để giao tiền cho hụi viên sống (Hụi 1.000.000 đồng thì gom 1.000.000 đồng, hụi 2.000.000 đồng thì gom 2.000.000 đồng, hụi 5.000.000 đồng thì gom 5.000.000 đồng). Anh chị có trả cho chị T số tiền của dây hụi khui vào ngày 31/3/2018 (15/02/2018 âm lịch) là 10.000.000 đồng. Nhưng sau đó, do các hụi viên chết không đóng tiền hụi nên anh chị không có tiền để giao cho những hụi viên sống.

Nay anh chị chỉ đồng ý trả số tiền còn nợ lại là 90.000.000 đồng của dây hụi 5.000.000 đồng khui hụi vào ngày 31/03/2018 (15/02/2018 âm lịch) vì dây hụi này anh chị có mượn hụi của bà T, nhưng xin trả dần 03 tháng trả 10.000.000 đồng. Còn các dây hụi còn lại anh chị không có nghĩa vụ trả tiền hụi cho chị T mà các hụi viên hốt hụi rồi có trách nhiệm trả tiền hụi cho chị T. Riêng các phần hụi mà anh chị đã hốt hụi thì anh chị đồng ý trả cho chị T nhưng xin trả số tiền hụi vốn tổng cộng là 17.800.000 đồng, xin trả dần mỗi tháng trả 1.000.000 đồng cho đến khi hết số tiền 17.800.000 đồng.

Tại phiên tòa sơ thẩm, chị M và anh V thống nhất còn nợ lại chị T số tiền hụi tổng cộng là 399.900.000 đồng. Nay anh chị đồng ý trả số tiền 399.900.000 đồng này cho chị T nhưng không hứa thời gian trả, khi nào anh chị khởi kiện lấy lại được tiền của những người hụi viên hốt hụi rồi thì anh chị trả tiền lại cho chị T.

Bản án dân sự sơ thẩm số: 06/2024/DS-ST ngày 16 tháng 01 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện C, tỉnh Tiền Giang đã quyết định:

Căn cứ: Khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, khoản 2 Điều 244, Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 357, khoản 3 Điều 428; Điều 471, khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015; Khoản 2 Điều 16, Điều 18, Điều 23 của Nghị định số 19/2019/NĐ-CP ngày 19/02/2019 của Chính phủ quy định về họ, hụi, biêu, phường; Khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị T.

Buộc chị Huỳnh Thị M và anh Trần Văn V phải trả cho chị Nguyễn Thị T số tiền 399.900.000 đồng (Ba trăm chín mươi chín triệu, chín trăm nghìn đồng), ngay sau khi án có hiệu lực pháp luật.

Kể từ ngày chị Nguyễn Thị T có đơn yêu cầu thi hành án, nếu chị Huỳnh Thị M và anh Trần Văn V chậm thực hiện nghĩa vụ trả tiền thì còn phải chịu thêm tiền lãi theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015 tương ứng với số tiền và khoảng thời gian chậm thi hành án.

Ngoài ra bản án sơ thẩm còn tuyên về chi phí tố tụng, án phí, nghĩa vụ thi hành án và quyền kháng cáo của đương sự theo quy định của pháp luật.

Ngày 22 tháng 01 năm 2024, bị đơn Trần Văn V, Nguyễn Thị M2 có đơn kháng cáo bản án sơ thẩm, yêu cầu cấp phúc thẩm sửa án sơ thẩm theo hướng bác yêu cầu khởi kiện nguyên đơn.

Tại phiên tòa phúc thẩm:

- Nguyên đơn chị Nguyễn Thị T vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, yêu cầu chị Huỳnh Thị M và anh Trần Văn V trả số tiền nợ hụi là 399.900.000 đồng, trả một lần ngay khi án có hiệu lực pháp luật.

-Người kháng cáo chị Huỳnh Thị M và anh Trần Văn V giữ nguyên kháng cáo yêu cầu cấp phúc thẩm xem xét sửa án sơ thẩm theo hướng không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

- Các đương sự không thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án.

Đại diện Viện kiểm sát phát biểu ý kiến:

+ Về việc chấp hành pháp luật từ khi thụ lý vụ án cho đến phiên tòa phúc thẩm: Thẩm phán, Thư ký và Hội đồng xét xử đều thực hiện đúng trình tự, thủ tục theo Bộ luật Tố tụng dân sự qui định. Các đương sự thực hiện quyền, nghĩa vụ tham gia tố tụng đúng pháp luật tố tụng dân sự.

+ Về quan điểm giải quyết vụ án, tại phiên tòa người kháng cáo chị Huỳnh Thị M và anh Trần Văn V không có cung cấp thêm chứng cứ nào mới để xem xét. Do đó đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của chị M và anh V, giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm số 06/2024/DS-ST ngày 16 tháng 01 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện C, tỉnh Tiền Giang.

NH N Đ NH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, lời trình bày của các đương sự, ý kiến phát biểu của đại diện Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về quan hệ tranh chấp: Nguyên đơn chị Nguyễn Thị T khởi kiện yêu cầu chị Huỳnh Thị M và anh Trần Văn V trả số tiền hụi là 399.900.000 đồng nên án sơ thẩm xác định quan hệ tranh chấp là tranh chấp “Hợp đồng góp hụi” là có căn cứ đúng quy định tại khoản 3 Điều 26 Bộ luật Tố tụng dân sự (BLTTDS).

[2]Về thủ tục tố tụng: Án sơ thẩm thụ lý giải quyết tranh chấp giữa nguyên đơn chị Nguyễn Thị T với bị đơn chị Huỳnh Thị M và anh Trần Văn V là đúng thẩm quyền quy định tại Điều 35, 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.

[3]Về nội dung kháng cáo: Đơn kháng cáo của chị Huỳnh Thị M và anh Trần Văn V là đúng quy định tại Điều 272, 273 Bộ luật Tố tụng dân sự nên được cấp phúc thẩm chấp nhận xem xét giải quyết.

[4]Xét yêu cầu kháng cáo của chị Huỳnh Thị M và anh Trần Văn V Hội đồng xét xử (HĐXX) nhận thấy:

-Tại biên hòa giải ngày 17/11/2023 và ngày 29/11/2023 Chị T khai nhận có tham gia các dây hụi do vợ chồng anh chị làm đầu thảo, cụ thể các dây hụi, số phần hụi cũng như số lần mà chị T đóng tiền hụi cho anh chị, thời gian ngưng hụi như chị T trình bày là đúng. Hụi tháng 1.000.000 đồng thì trừ tiền đầu thảo là 400.000 đồng; Hụi tháng 2.000.000 đồng thì trừ tiền đầu thảo là 500.000 đồng; Hụi mùa 3.000.000 đồng thì trừ tiền đầu thảo là 1.000.000 đồng; Hụi mùa 5.000.000 đồng thì trừ tiền đầu thảo là 1.500.000 đồng.

-Tại phiên tòa, chị M và anh V thống nhất còn nợ lại chị T số tiền hụi tổng cộng là 399.900.000 đồng. Nay anh chị đồng ý trả số tiền 399.900.000 đồng này cho chị T nhưng không hứa thời gian trả, khi nào anh chị khởi kiện lấy lại được tiền của những người hụi viên hốt hụi rồi thì anh chị trả tiền lại cho chị T.

-Theo quy định tại khoản 4 Điều 18 Nghị định số 19 của Chính phủ quy định về trách nhiệm của chủ hụi như sau: “4. Nộp thay phần họ của thành viên nếu đến kỳ mở họ mà có thành viên không góp phần họ, trừ trường hợp có thỏa thuận khác”.

-Theo quy định tại khoản 1 Điều 24 quy định về trách nhiệm của thành viên không góp hụi là “1. Hoàn trả số tiền mà chủ họ đã góp thay cho thành viên”.

Như vậy, theo quy định của pháp luật thì trong trường hợp có hụi viên không thực hiện việc góp hụi thì chủ hụi phải có nghĩa vụ nộp thay sau đó được quyền yêu cầu hụi viên chưa góp hụi phải trả lại cho chủ hụi phần đã góp thay đó. Do đó cấp sơ thẩm xử chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn là có căn cứ, chị Huỳnh Thị M và anh Trần Văn V kháng cáo mà không có cung cấp thêm chứng cứ mới nào để xem xét nên không có cơ sở để chấp nhận.

[5] Ý kiến đề nghị của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tiền Giang là phù hợp nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.

[6] Về án phí: chị Huỳnh Thị M và anh Trần Văn V phải chịu án phí phúc thẩm theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT Đ NH:

Căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự; Căn cứ vào: Khoản 3 Điều 26, Điều 227 và điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 357, khoản 3 Điều 428; Điều 471, khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015; Khoản 2 Điều 16, Điều 18, Điều 23 của Nghị định số 19/2019/NĐ-CP ngày 19/02/2019 của Chính phủ quy định về họ, hụi, biêu, phường; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về án phí và lệ phí Tòa án.

Xử:

Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của chị Huỳnh Thị M và anh Trần Văn V giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm số 06/2024/DS-ST ngày 16 tháng 01 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện C, tỉnh Tiền Giang.

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị T.

- Buộc chị Huỳnh Thị M và anh Trần Văn V phải trả cho chị Nguyễn Thị T số tiền 399.900.000 đồng (Ba trăm chín mươi chín triệu, chín trăm nghìn đồng) sau khi án có hiệu lực pháp luật.

Kể từ ngày chị Nguyễn Thị T có đơn yêu cầu thi hành án, nếu chị Huỳnh Thị M và anh Trần Văn V chậm thực hiện nghĩa vụ trả tiền thì còn phải chịu thêm tiền lãi theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015 tương ứng với số tiền và khoảng thời gian chậm thi hành án.

2. Về án phí: chị Huỳnh Thị M và anh Trần Văn V mỗi người phải chịu 300.000 đồng án phí phúc thẩm, được trừ vào 600.000 đồng tạm ứng án phí phúc thẩm đã nộp theo các biên lai số 0002471 ngày 22/3/2024 và 0002285 ngày 23/01/2024 của Chi cục thi hành án dân sự huyện C tỉnh Tiền Giang. Chị Huỳnh Thị M và anh Trần Văn V đã nộp xong án phí phúc thẩm. Chị Huỳnh Thị M và anh Trần Văn V phải chịu 19.995.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.

- Hoàn lại cho chị Nguyễn Thị T số tiền 10.500.000 đồng tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0018171 ngày 27/10/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện C, tỉnh Tiền Giang.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 02 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và Điều 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

3. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ