vanban.org

Bản án 254/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Các Đi u 144, 147, 227, 228, 235, 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 201 ;

Điểm a khoản 5 Đi u 27 Nghị quyết 32 201 U TVQH1 ngày 30 tháng 12 năm 201 của Ủy an th ờng vụ quốc hội quy định v mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Lê Thị Tuyết N. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Tranh chấp ly hôn, nuôi con"
  • Tòa quyết gì? Các Đi u 144, 147, 227, 228, 235, 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 201 ;
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN CHỢ MỚI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH AN GIANG
Bản án số: 254/2023/HNGĐ-ST
Ngày: 28/9/2023
“V/v tranh chấp hôn nhân và gia
đình ly hôn, tranh chấp về
nuôi con”

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHỢ MỚI, TỈNH AN GIANG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Ông Châu Vũ Sơn.

- Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Nguyễn Thanh Liêm.

2. Ông Nguyễn Văn Hồng.

Thư ký phiên tòa: Bà Lê Tường Vi, là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang tham gia phiên tòa: Ông Trương Minh Thiện – Kiểm sát viên.

Ngày 28 tháng 9 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Chợ Mới xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 517/2023/TLST-HNGĐ ngày 12 tháng 7 năm 2023 “Tranh chấp hôn nhân và gia đình ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 452/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 15 tháng 8 năm 2023 và Quyết định hoãn phiên tòa số 509/2023/QĐST-HNGĐ ngày 07 tháng 9 năm 2023, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Chị Lê Thị Tuyết N, sinh năm 2001; địa chỉ: tổ D, ấp E Biển B, xã N, huyện A, tỉnh Kiên Giang; có văn bản xin xét xử vắng mặt.

2. Bị đơn: Anh Đặng Tấn L, sinh năm 1995; địa chỉ: ấp M, xã M, huyện C, tỉnh An Giang; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

- Theo đơn khởi kiện, tờ tự khai cung cấp trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn chị Lê Thị Tuyết N trình bày, sau thời gian tự tìm hiểu chị và anh L được cha mẹ hai bên tổ chức lễ cưới năm 2020 vợ chồng có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã N, huyện A, tỉnh Kiên Giang. Vợ chồng sống chung đôi lúc cũng hay cãi vã, nguyên nhân phát sinh mâu thuẫn sống không tình cảm, bất đồng quan điểm, không hợp nhau, anh L không lo làm ăn lo cho vợ con, anh L có quen biết với người phụ nữ bên ngoài, chị có khuyên nhưng anh L không sửa đổi, vợ chồng không còn sống chung từ cuối năm 2022 cho đến nay. Nay nhận thấy tình cảm không còn, chị yêu cầu ly hôn với anh L.

Về con chung: Trong thời gian chung sống, vợ chồng có sinh 01 con chung cháu Đặng Tấn P, sinh ngày 15/11/2020 hiện nay sống chung với chị N, khi ly hôn chị N yêu cầu được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cháu P, không yêu cầu anh L phải cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung: Chị Lê Thị Tuyết N xác định vợ chồng không có.

Về nợ chung: Chị Lê Thị Tuyết N xác định vợ chồng không có.

- Anh Đặng Tấn L đã được triệu tập hợp lệ nhưng vẫn vắng mặt trong suốt quá trình giải quyết vụ án nên Tòa án không ghi nhận được ý kiến.

Tài liệu, chứng cứ do nguyên đơn cung cấp chứng minh cho ý kiến, yêu cầu khởi kiện: Giấy chứng minh nhân dân, hộ khẩu gia đình, giấy chứng nhận kết hôn số 64 ngày 02.7.2020 do Ủy ban nhân dân xã N, huyện A, tỉnh Kiên Giang cấp; Giấy khai sinh của Đặng Tấn P (bản sao).

Tại phiên tòa,

- Nguyên đơn có ý kiến xin xét xử vắng mặt nên không ghi nhận ý kiến gì khác.

- Bị đơn vắng mặt nên không ghi nhận ý kiến.

- Ý kiến của Kiểm sát viên tham gia phiên tòa:

Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa án trong giai đoạn chuẩn bị xét xử và tại phiên tòa: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa án đã tuân theo đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Việc tuân theo pháp luật tố tụng của người tham gia tố tụng: Nguyên đơn đã thực hiện đúng quy định tại các Điều 70, 71, 234 Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn đã được Tòa án triệu tập hợp lệ tham gia phiên tòa nhưng vắng mặt không lý do nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn là phù hợp với quy định tại Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự.

- Ý kiến giải quyết vụ án:

- Về hôn nhân: Chị Lê Thị Tuyết N và anh Đặng Tấn L do quen biết và được cha mẹ hai bên đồng ý tổ chức lễ cưới vào năm 2020, có đăng ký kết hôn ngày 02/7/2020 tại UBND xã N, huyện A, tỉnh Kiên Giang, là hôn nhân hợp pháp được pháp luật thừa nhận, bảo vệ. Vợ chồng chung sống hạnh phúc đến cuối năm 2022 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do vợ chồng sống chung không còn tình cảm, bất đồng quan điểm trong cuộc sống. Anh L không quan tâm đến vợ con và có quen biết người phụ nữ bên ngoài, chị N có khuyên anh L nhiều lần nhưng không sửa đổi. Vợ chồng anh chị sống ly thân từ cuối năm 2022 cho đến nay. Nhận thấy, tình cảm không còn nay chị N yêu cầu được ly hôn với anh L.

Xét thấy, xuất phát từ mâu thuẫn do bất đồng quan điểm nên chị N và anh L thường xuyên cãi vã nhau. Anh L không quan tâm đến vợ con và có quen biết người phụ nữ bên ngoài, chị N có khuyên anh L nhiều lần nhưng không sửa đổi. Vợ chồng anh chị đã ly thân từ cuối năm 2022 cho đến nay, trong thời gian này cả hai cũng không tạo cơ hội để hàn gắn tình cảm cho nhau. Chị N xác định không còn tình cảm, kiên quyết ly hôn, nên mục đích hôn nhân không đạt, nếu buộc tiếp tục chung sống sẽ không hạnh phúc. Ngoài ra, trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tống đạt thông báo thụ lý vụ án về việc chị N yêu cầu ly hôn và triệu tập anh L tham gia các phiên họp về kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ, hòa giải, nhưng anh L vẫn vắng mặt và không có ý kiến phản đối yêu cầu ly hôn của chị N. Vì vậy, căn cứ Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị N đối với anh L.

- Về con chung: Có 01 con chung tên Đặng Tấn P, sinh ngày 15/11/2020. Hiện cháu P đang sống với chị N, sau khi ly hôn chị N yêu cầu được tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng cháu P, không yêu cầu anh L cấp dưỡng nuôi con.

Xét thấy, cháu P chưa đủ tuổi để Tòa án ghi nhận ý kiến. Tuy nhiên, hiện nay cháu P đang sống cùng với chị N, cháu phát triển tốt về thể chất, tinh thần. Anh L vắng mặt trong suốt quá trình tố tụng, không có ý kiến về việc nuôi con chung. Vì vậy, cần ổn định cuộc sống của cháu P, tiếp tục giao cháu P cho chị N chăm sóc, nuôi dưỡng. Do chị N không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con nên không đề cập xem xét giải quyết.

- Về tài sản chung, nợ chung: Chị N xác định không yêu cầu Tòa án xem xét, giải quyết nên không đề cập giải quyết.

Từ những phân tích nêu trên, đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ các Điều 56, 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân và gia đình:

- Chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Lê Thị Tuyết N đối với anh Đặng Tấn L.

- Chị Lê Thị Tuyết N tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng con chung tên Đặng Tấn P, sinh ngày 15/11/2020. Anh Đặng Tấn L không phải cấp dưỡng nuôi con.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Về tố tụng:

Chị Lê Thị Tuyết N khởi kiện yêu cầu ly hôn với anh Đặng Tấn L cư trú ấp M, xã M, huyện C, tỉnh An Giang. Xét đây là tranh chấp về hôn nhân và gia đình thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Chợ Mới theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về sự vắng mặt của đương sự: Chị Lê Thị Tuyết N có đơn xin xét xử vắng mặt, anh Đặng Tấn L đã được triệu tập hợp lệ tham gia phiên tòa lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt chị N và anh L theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về nội dung:

Về hôn nhân:

Chị Lê Thị Tuyết N và anh Đặng Tấn L tự nguyện kết hôn và có đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật nên quan hệ hôn nhân giữa chị N và anh L là hợp pháp, được pháp luật thừa nhận và bảo vệ.

Xét thấy, xuất phát từ mâu thuẫn trong thời gian chung sống, chị N với anh L thường xuyên cãi vã, bất đồng quan điểm, tính tình không hợp nhau, anh L không lo làm ăn lo cho vợ con, anh L có quen biết với người phụ nữ bên ngoài chị có khuyên nhưng anh không sửa đổi, anh chị không còn sống chung từ cuối năm 2022 cho đến nay. Cho nên, có căn cứ xác định mâu thuẫn giữa chị N, anh L là trầm trọng, tình cảm vợ chồng không còn, mục đích của hôn nhân không đạt được. Do đó, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị N đối với anh L theo quy định tại khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014.

Về con chung: Chị Lê Thị Tuyết N xác định trong thời gian chung sống vợ chồng có 01 con chung Đặng Tấn P, sinh ngày 15/11/2020 hiện nay sống chung với chị N, khi ly hôn chị N yêu cầu được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cháu P.

Xét thấy, việc giao con chưa thành niên cho vợ hay chồng chăm sóc, nuôi dưỡng, cần xem xét đến điều kiện phát triển và nguyện vọng của con chung. Từ khi ly thân đến nay, cháu P sống chung với chị N cháu vẫn phát triển bình thường về thể chất và tinh thần. Để đảm bảo ổn định cuộc sống cho cháu P. Hội đồng xét xử nghĩ nên tiếp tục giao cháu P cho chị N trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng là phù hợp với quy định pháp luật.

Về cấp dưỡng nuôi con chung do chị N không yêu cầu anh L cấp dưỡng nuôi con, do đó Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

Về tài sản chung và nợ chung: Chị Lê Thị Tuyết N xác định không yêu cầu Tòa án xem xét, giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

Về án phí hôn nhân sơ thẩm: Căn cứ Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, chị Lê Thị Tuyết N phải chịu án phí hôn nhân sơ thẩm theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự.

Anh Đặng Tấn L không phải chịu án phí hôn nhân sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ các Đi u , , 1, 2, 3, Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014;

Các Đi u 144, 147, 227, 228, 235, 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 201 ;

Điểm a khoản 5 Đi u 27 Nghị quyết 32 201 U TVQH1 ngày 30 tháng 12 năm 201 của Ủy an th ờng vụ quốc hội quy định v mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Lê Thị Tuyết N.

1. Về hôn nhân: Chị Lê Thị Tuyết N được ly hôn với anh Đặng Tấn L.

Giấy chứng nhận kết hôn số 64 ngày 02/7/2020 do Ủy ban nhân dân xã N, huyện A, tỉnh Kiên Giang cấp cho chị Lê Thị Tuyết N và anh Đặng Tấn L không còn giá trị pháp lý.

2. Về con chung: Vợ chồng có 01 Đặng Tấn P, sinh ngày 15/11/2020 hiện nay sống chung với chị N, khi ly hôn chị N được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cháu P. Anh Đặng Tấn L không phải cấp dưỡng nuôi con.

Chị Lê Thị Tuyết N cùng các thành viên gia đình (nếu có) không được cản trở anh Đặng Tấn L trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.

Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của người thân thích của con, cơ quan có thẩm quyền, Toà án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con, buộc cấp dưỡng nuôi con chung dựa trên các căn cứ do pháp luật quy định.

3. Về tài sản chung: Chị Lê Thị Tuyết N xác định không yêu cầu Tòa án xem xét, giải quyết.

4. Về nợ chung: Chị Lê Thị Tuyết N xác định không có nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

Ghi nhận chị Tuyết N xác định không có nợ chung, nhưng sau khi bản án ly hôn có hiệu lực pháp luật nếu có nguyên đơn xuất trình chứng cứ chứng minh nợ chung của chị N và L trong thời kỳ hôn nhân thì anh, chị phải liên đới chịu trách nhiệm với tư cách đồng bị đơn trong vụ án dân sự khác.

5. Về án phí sơ thẩm:

Chị Lê Thị Tuyết N phải chịu án phí hôn nhân sơ thẩm 300.000 a trăm nghìn đồng nhưng được trừ vào tiền tạm ứng án phí 300.000 a trăm nghìn đồng đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0013881 do Chi cục Thi hành án dân sự huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang cấp ngày 12 tháng 7 năm 2023; Chị Lê Thị Tuyết N đã nộp đủ án phí.

Anh Đặng Tấn L không phải chịu án phí hôn nhân sơ thẩm.

6. Đương sự có mặt tham gia phiên toà có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.

Tr ờng hợp bản án, quyết định đ ợc thi hành theo quy định tại Đi u 2 Luật Thi hành án dân sự thì ng ời đ ợc thi hành án dân sự, ng ời phải thi hành án dân sự có quy n thoả thuận thi hành án, quy n yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị c ỡng chế thi hành án theo quy định tại các Đi u , 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án đ ợc thực hiện theo quy định tại Đi u 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ