vanban.org

Bản án 254/2022/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

TAND TP. Hải Phòng Tuyên án 02/08/2023 Hôn nhân và gia đình Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Phạm Đức H, cụ thể:

Về quan hệ hôn nhân: Anh Phạm Đức H được ly hôn chị Nguyễn Thị M. Về con chung: Giao con chung tên là Phạm Thị V, sinh ngày 17 tháng 7 năm 2008 cho anh Phạm Đức H trực tiếp nuôi cho đến khi con đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật. Việc cấp dưỡng nuôi con, anh Phạm Đức H k… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Vụ án tranh chấp ly hôn"
  • Tòa quyết gì? Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Phạm Đức H, cụ thể:
  • Căn cứ chính? Điều 51 Luật Hôn nhân và Gia đình xử; Điều 127 Luật Hôn nhân và Gia đình xử; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 254/2022/HNGĐ-ST
Ngày 19-12-2022
V/v ly hôn, tranh chấp
nuôi con khi ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Vũ Thị Thu Hà

Các Hội thẩm nhân dân:

Bà Vũ Thị Minh Nguyệt

Ông Đặng Huy Du

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Hà Phương - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Hải Phòng tham gia phiên tòa: Bà Đỗ Thu Hương - Kiểm sát viên.

Ngày 19 tháng 12 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 238/2022/TLST-HNGĐ ngày 03 tháng 10 năm 2022 về ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 235/2022/QĐXXST-HNGĐ ngày 15 tháng 11năm 2022 và Quyết định hoãn phiên tòa số 107/2022/QĐST-HNGĐ ngày 01 tháng 12 năm 2022, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Anh Phạm Đức H, sinh năm 1984; cư trú tại: Thôn Đông Xuyên Ngoại, xã Đoàn Lập, huyện Tiên Lãng, thành phố Hải Phòng.

- Bị đơn: Chị Nguyễn Thị M, sinh năm 1988; ĐKHKTT: Thôn Đông Xuyên Ngoại, xã Đoàn Lập, huyện Tiên Lãng, thành phố Hải Phòng; hiện đang cư trú tại Trung Quốc.

Anh Phạm Đức H vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt; chị Nguyễn Thị M vắng mặt, không có lý do.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện và bản tự khai, trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn là anh Phạm Đức H trình bày:

Anh Phạm Đức H và chị Nguyễn Thị M kết hôn trên cơ sở tự nguyện, được sự đồng ý của hai bên gia đình, có tổ chức lễ cưới theo phong tục tập quán của địa phương và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Đoàn Lập, huyện Tiên Lãng, thành phố Hải Phòng vào ngày 09/6/2008. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống hạnh phúc được 05 năm đầu thì phát sinh mâu thuẫn. Do mâu thuẫn căng thẳng nên cuối năm 2012 chị M bỏ về nhà bố mẹ đẻ sống. Đến năm 2013 chị M sang Trung Quốc để lao động. Anh H và chị M sống ly thân từ đó đến nay, không quan tâm đến nhau về tình cảm cũng như kinh tế. Anh H hiện không liên lạc với chị M nên không thể biết được địa chỉ của chị M tại Trung Quốc để cung cấp cho Tòa án. Nay xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, anh đề nghị Tòa án giải quyết cho anh được ly hôn với chị M.

Về con chung: Anh H và chị M có 01 con chung tên là Phạm Thị V, sinh ngày 17 tháng 7 năm 2008, hiện cháu V đang ở với anh H. Khi ly hôn anh H có nguyện vọng được nuôi con. Về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con, anh H không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về tài sản chung: Anh H và chị M không có tài sản chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Đối với bị đơn là chị Nguyễn Thị M trong quá trình giải quyết vụ án:

Theo Công văn số 23126/QLXNC-P5 ngày 02/11/2022 của Cục Quản lý Xuất nhập cảnh - Bộ Công an, chị Nguyễn Thị M đã xuất cảnh ngày 19/02/2013, hiện chưa có thông tin nhập cảnh về nước.

Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng đã tiến hành tống đạt thông báo thụ lý vụ án cho bà Nguyễn Thị S là mẹ đẻ của chị Nguyễn Thị M. Tại Biên bản lấy lời khai ngày 11/10/2022, bà S trình bày: Chị M và anh Phạm Đức H kết hôn do tự nguyện tìm hiểu, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Đoàn Lập, huyện Tiên Lãng, thành phố Hải Phòng ngày 09/6/2008. Sau khi kết hôn chị M và anh H chung sống hạnh phúc được khoảng 02 năm đầu thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân do tính cách không hợp, bất đồng quan điểm sống, một phần do anh H lười lao động, không quan tâm đến gia đình. Năm 2010 do mâu thuẫn căng thẳng nên chị M đã bỏ về nhà bà S sống và sống ly thân với anh H từ đó đến nay. Đến năm 2013 thì chị M đi lao động ở Trung Quốc. Bà S đã thông báo cho chị M biết việc anh H xin ly hôn chị M tại Tòa án. Quan điểm của chị M là đồng ý ly hôn. Gia đình không có ý kiến gì nếu như anh H và chị M muốn ly hôn. Về con chung: Chị M và anh H có 01 con chung tên là Phạm Thị V, sinh ngày 17 tháng 7 năm 2008, đang ở với anh H, do chị M không có mặt ở nhà nên đồng ý giao con chung cho anh H nuôi, nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con hai bên tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết. Về tài sản chung: Chị M và anh H không có tài sản chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết. Về địa chỉ nơi cư trú của chị M: Gia đình không nắm rõ được địa chỉ chị M ở Trung Quốc nhưng vẫn liên lạc được với chị M qua điện thoại và thường xuyên trao đổi với chị M về các nội dung Tòa án thông báo nên chị M đã cung cấp các quan điểm như trên. Địa chỉ cuối cùng trước khi chị M trước khi đi Trung Quốc là: Thôn Đông Xuyên Ngoại, xã Đoàn Lập, huyện Tiên Lãng, thành phố Hải Phòng.

Do anh Phạm Đức H đề nghị không tiến hành hòa giải theo quy định tại khoản 4 Điều 207 của Bộ luật Tố tụng dân sự nên Tòa án không tiến hành hòa giải vụ án được.

Tại phiên tòa, anh Phạm Đức H và chị Nguyễn Thị M vắng mặt, Chủ tọa phiên tòa đã công bố lý do đương sự vắng mặt, công bố tóm tắt nội dung vụ án và tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án thể hiện quan điểm giải quyết vụ án của các đương sự.

Phát biểu của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hải Phòng về việc giải quyết vụ án:

- Trong quá trình giải quyết vụ án, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký đã chấp hành đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Nguyên đơn đã thực hiện đúng các quy định về quyền và nghĩa vụ của mình.

- Về quan điểm giải quyết vụ án:

Anh Phạm Đức H và chị Nguyễn Thị M kết hôn trên cơ sở tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Đoàn Lập, huyện Tiên Lãng, thành phố Hải Phòng ngày 09/6/2008. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống hạnh phúc được một thời gian, đến năm 2013 anh chị có phát sinh mâu thuẫn, chị M đã sang Trung Quốc để lao động và sống ly thân từ đó đến nay, không còn quan hệ gì về mặt tình cảm và kinh tế. Xét thấy: Hôn nhân giữa anh H và chị M đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó, cần áp dụng khoản 1 Điều 19, khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh H. Về con chung: Anh, chị có 01 con chung tên là Phạm Thị V, sinh ngày 17 tháng 7 năm 2008, hiện đang ở với anh H, khi ly hôn anh H đề nghị được nuôi con chung và không yêu cầu cấp dưỡng. Xét thấy: Cháu V từ trước đến nay vẫn ở cùng bố, chị M mặc dù biết anh H xin ly hôn nhưng không có quan điểm gì về vấn đề hôn nhân và con chung, cháu V cũng có nguyện vọng được ở với bố, do đó cần tiếp tục giao cháu V cho anh H nuôi dưỡng đến khi cháu đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật. Về tài sản chung: Anh chị không có tài sản chung không yêu cầu nên không xem xét giải quyết.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

- Về thủ tục tố tụng:

Về thẩm quyền giải quyết: Anh Phạm Đức H có địa chỉ tại Hải Phòng xin ly hôn chị Nguyễn Thị M hiện đang cư trú tại Trung Quốc (theo Công văn số 23126/QLXNC-P5 ngày 02/11/2022 của Cục Quản lý Xuất nhập cảnh - Bộ Công an thể hiện chị Nguyễn Thị M, sinh ngày 28/11/1992, đã xuất cảnh ngày 19/02/2013, hiện chưa có thông tin nhập cảnh về nước). Theo quy định tại khoản 3 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 37, điểm b khoản 1 Điều 39, Điều 469, Điều 470 của Bộ luật Tố tụng dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng.

Về sự vắng mặt của đương sự: Nguyên đơn là anh Phạm Đức H và bị đơn là chị Nguyễn Thị M cùng vắng mặt tại phiên tòa, anh H có đơn đề nghị xét xử vắng mặt còn chị M vắng mặt không có lý do nhưng đã được Tòa án tống đạt, niêm yết các văn bản tố tụng theo đúng quy định pháp luật. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227 và khoản 1, khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Toà án nhân dân thành phố Hải Phòng tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn và bị đơn.

- Về nội dung:

Về quan hệ hôn nhân: Theo lời khai của anh Phạm Đức H và tài liệu có trong hồ sơ thể hiện, anh chị có kết hôn và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Đoàn Lập, huyện Tiên Lãng, thành phố Hải Phòng ngày 09/6/2008, đây là hôn nhân hợp pháp theo quy định tại Điều 11 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2000. Sau khi kết hôn anh chị chung sống hạnh phúc được khoảng 05 thì xảy ra mâu thuẫn, không thể khắc phục được. Anh chị sống ly thân từ năm 2012 đến nay, không quan thâm đến nhau về tình cảm và kinh tế. Do đó, có cơ sở xác định cuộc sống chung giữa anh Phạm Đức H và chị Nguyễn Thị M không hạnh phúc, không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên cần áp dụng Điều 51, Điều 56, Điều 127 của Luật Hôn nhân và Gia đình xử cho anh H được ly hôn chị Nguyễn Thị M.

Về con chung: Anh Phạm Đức H và chị Nguyễn Thị M có 01 con chung tên là Phạm Thị V, sinh ngày 17 tháng 7 năm 2008, hiện đang ở với anh H, chị M không có mặt tại Việt Nam. Anh H đề nghị được nuôi con và không yêu cầu Tòa án giải quyết việc cấp dưỡng nuôi con, phù hợp với nguyện vọng của cháu V và đại diện gia đình chị M nên cần áp dụng Điều 81, 82, 83 của Luật Hôn nhân và Gia đình giao con Phạm Thị V cho anh H trực tiếp nuôi cho đến khi con đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật. Nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con anh H và chị M không yêu cầu nên Hội đồng xét xử tạm thời không xem xét giải quyết.

Về tài sản chung: Anh Phạm Đức H và chị Nguyễn Thị M , không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

- Về án phí ly hôn sơ thẩm:

Anh Phạm Đức H là nguyên đơn phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

- Về quyền kháng cáo của các đương sự:

Anh Phạm Đức H và chị Nguyễn Thị M được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 37, điểm c khoản 1 Điều 40, khoản 4 Điều 147, khoản 4 Điều 207, khoản 1 Điều 227, khoản 1 Điều 228, Điều 266, Điều 273, điểm d khoản 1 Điều 469, khoản 2 Điều 479 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

Căn cứ Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 127 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014;

Căn cứ điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án,

Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Phạm Đức H, cụ thể:

1. Về quan hệ hôn nhân: Anh Phạm Đức H được ly hôn chị Nguyễn Thị M.

2. Về con chung: Giao con chung tên là Phạm Thị V, sinh ngày 17 tháng 7 năm 2008 cho anh Phạm Đức H trực tiếp nuôi cho đến khi con đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật. Việc cấp dưỡng nuôi con, anh Phạm Đức H không yêu cầu, nên tạm thời Tòa án không giải quyết.

Cha, mẹ trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.

3. Về tài sản chung: Anh Phạm Đức H và chị Nguyễn Thị M không yêu cầu, nên Tòa án không giải quyết.

4. Về án phí:Anh Phạm Đức H phải nộp 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0000807 ngày 03/10/2022 tại Cục Thi hành án dân sự thành phố Hải Phòng.Anh H đã nộp đủ án phí ly hôn sơ thẩm.

5. Về quyền kháng cáo của các đương sự:

Anh Phạm Đức H được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ.

Chị Nguyễn Thị M được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 01 tháng kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án Dân sự thì người được thi hành, người phải thi hành án có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ