- Tranh chấp gì? án hình sự — "Tội cướp giật tài sản - phạm tội cướp giật tài sản (điều 171 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Hồ Thanh H phạm tội “Cướp giật tài sản”.
- Căn cứ chính? Điều 171 Bộ luật Hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 51 Bộ luật Hình sự
| T T P T T T | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 254/2019/HS-ST Ngày: 20-11-2019 |
NHÂN DANH
Ƣ
T M T
T
P
, T
T
T
- Thành ph n H i đ ng xét x s th m g m có:
Th m phán - hủ tọa phi n t a: Ông Nguyễn Đình Tú
ác Hội th m nh n d n: Bà Đoàn Thị Thanh Nhàn và bà Đặng Thị Ngọc Lan.
- Th ký phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Thuận, Thư ký Tòa án.
- Đ i di n Vi n ki m sát nhân dân thành ph Hu tham gia phiên tòa: Ông Lê Bá Tuấn, Kiểm sát viên .
Ngày 20 tháng 11 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Huế xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 234/2019/HSST ngày 29 tháng 10 năm 2019 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 236/2019/QĐXXST-HS ngày 07 tháng 11 năm 2019 đối với bị cáo:
Hồ Thanh H, sinh ngày 06 tháng 4 năm 2001 tại t nh Thừa Thiên Huế; Nơi cư trú: thôn H, xã T, huyện A Lưới, t nh Thừa Thiên Huế; nghề nghiệp: làm thuê; trình độ học vấn: 10/12; giới tính: Nam; dân tộc: Pa cô; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Hồ Văn Th và bà Lê Thị H; vợ, con: chưa có.
Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị tạm giam từ ngày 11/8/2019 đến nay. Có mặt.
* Bị h i:
- Chị Đỗ Thị Thu H, sinh năm 1985; địa ch : 133 đường B, phường A, thành phố Huế. Vắng mặt.
- Bà Lê Thị T, sinh năm 1966; địa ch : 17/71 đường L, phường Th, thành phố Huế. Vắng mặt.
* Ng ời có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Anh Hồ Văn Th, sinh năm 1977; địa ch : thôn H, xã T, huyện A Lưới, t nh Thừa Thiên Huế. Có mặt.
Ụ :
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vụ thứ 1: Khoảng 11 giờ 30 phút ngày 28/7/2019, H điều khiển xe mô tô hiệu Honda Airblade, màu đỏ đen bạc, biển số 75Z1 – 2256 đi trên đường Ngự Bình theo hướng đường An Dương Vương về đàn Nam Giao thì phát hiện chị Đỗ Thị Thu H đang điều khiển xe mô tô cùng chiều. Vai trái chị H có đeo túi xách, H điều khiển xe áp sát phía bên trái chị H, dùng tay phải giật túi xách rồi tăng tốc độ xe tẩu thoát. Khi đến đoạn đường giao nhau với đường Hồ Đắc Di, H dừng lại kiểm tra túi xách lấy 01 điện thoại di động hiệu Samsung A6 màu vàng và 600.000đồng. Còn túi xách, ví và các giấy tờ tùy thân của chị H, H vứt bỏ bên lề đường. Đến ngày 05/8/2019, một người đàn ông không rõ nhân thân, lai lịch đem túi xách, ví và các giấy tờ tùy thân đến nhà trả lại cho chị H.
Vụ thứ 2: Khoảng 17 giờ ngày 08/8/2019, H điều khiển xe mô tô hiệu Honda Airblade, màu đỏ đen bạc, biển số 75Z1 – 2256 đi vào các kiệt của phường Trường An, thành phố Huế. Khi đi vào kiệt 175 đường Phan Bội Châu thì phát hiện bà Lê Thị T đang ngồi trên xe mô tô dừng sát lề đường, tay trái cầm một chiếc điện thoại di động hiệu Nokia 8.1 màu xanh đen. H quay xe lại, dùng tay trái giật chiếc điện thoại rồi tăng ga tẩu thoát.
Ngày 10/8/2019, khi H đang đi trên đường thì bị lực lượng cảnh sát phát hiện mời làm việc. Tại cơ quan điều tra, H đã khai nhận hành vi phạm tội của mình.
* Vật chứng thu giữ:
- 01 điện thoại di động hiệu Samsung A6 màu vàng.
- 01 túi xách bằng vải giả màu xanh đen, có hai quai, kích thước 20cm x 30cm.
- 01 cái ví bằng vải hình mặt con mèo, có kích thước 10cm x 10cm và các giấy tờ tùy thân bên trong.
- 01 điện thoại di động hiệu Nokia 8.1 màu xanh đen.
- 01 xe mô tô hiệu Honda Airblade, màu đỏ đen bạc, biển số 75Z1 – 2256.
Tại bản kết luận định giá tài sản số 213 ngày 13/8/2019 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự xác định: Tại thời điểm bị chiếm đoạt 01 điện thoại di động hiệu Samsung A6 màu vàng, 01 túi xách và 01 cái ví có tổng giá trị 4.120.000đồng; 01 điện thoại di động hiệu Nokia 8.1 màu xanh đen có giá trị 5.000.000đồng.
Về xử lý vật chứng và trách nhiệm dân sự: Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Huế đã trả lại toàn bộ tài sản gồm 01 điện thoại di động hiệu Samsung A6 màu vàng, 01 túi xách và 01 cái ví và các giấy tờ tùy thân cho chị H; 01 điện thoại di động hiệu Nokia 8.1 màu xanh đen cho bà T; 01 xe mô tô hiệu Honda Airblade, màu đỏ đen bạc, biển số 75Z1 – 2256 cho ông Th. Chị H nhận lại tài sản, không yêu cầu bị cáo pH bồi thường số tiền 600.000đồng đã chiếm đoạt, bà T, ông Th nhận lại tài sản và không yêu cầu gì thêm.
Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo Hồ Thanh H đã thừa nhận hành vi phạm tội của mình, công nhận việc khởi tố của Cơ quan điều tra và truy tố của Viện kiểm sát là đúng với hành vi của bị cáo.
Tại bản cáo trạng số 240/CT-VKS - HS ngày 28 tháng 10 năm 2019, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Huế truy tố Hồ Thanh H về tội “Cướp giật tài sản” theo điểm d khoản 2 Điều 171 Bộ luật hình sự năm 2015.
Tại phiên tòa, đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Huế đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Hồ Thanh H phạm tội “Cướp giật tài sản”.
- Về hình phạt: Áp dụng điểm d khoản 2 Điều 171; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự năm 2015, xử phạt Hồ Thanh H từ 03 năm đến 03 năm 06 tháng tù.
- Về án phí: Tuyên buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự theo quy định của pháp luật.
Ậ Ị
TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Vào các ngày 28/7/2019 và 08/08/2019, tại đường Ngự Bình và kiệt 175 đường Phan Bội Châu, thành phố Huế, Hồ Thanh H đã sử dụng xe mô tô hiệu Honda Airblade, màu đỏ đen bạc, biển số 75Z1 – 2256 để thực hiện 02 vụ cướp giật tài sản của chị Đỗ Thị Thu H và bà Lê Thị T. Tổng giá trị tài sản mà bị cáo chiếm đoạt là 9.720.000đồng. Do đó, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Huế truy tố bị cáo Hồ Thanh H về tội “Cướp giật tài sản” theo điểm d khoản 2 Điều 171 Bộ luật hình sự năm 2015 là có căn cứ, đúng quy định của pháp luật.
[2] Bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức rõ hành vi cướp giật tài sản của người khác là vi phạm pháp luật, nhưng vì hám lợi, lười lao động và muốn có tiền tiêu xài không chính đáng nên bị cáo đã phạm tội. Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, không những xâm hại trực tiếp đến quyền sở hữu về tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ, mà còn có thể gây ảnh hưởng đến sức khỏe, tính mạng của các bị hại, làm ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự trị an tại địa pT nên cần pH xử lý nghiêm.
[3] Xét về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự thấy rằng: bị cáo có nhân thân tốt, không có tiền án, tiền sự; bị cáo 02 lần thực hiện hành vi phạm tội nên pH chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự phạm tội 02 lần trở lên quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự; quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015.
Từ những phân tích trên, Hội đồng xét xử nhận thấy pH xử lý bị cáo bằng một hình phạt thật nghiêm khắc, cần thiết pH cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa mới có tác dụng giáo dục, răn đe, phòng ngừa.
[4] Về xử lý vật chứng và trách nhiệm dân sự: Đã giải quyết xong nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[5] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
[6] Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Tại phiên tòa, các bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại gì về kết luận điều tra và bản cáo trạng nên các hành vi, quyết định của cơ quan tố tụng, người tiến hành tố tụng là hợp pháp.
Vì các lẽ trên,
Q Y T Ị :
Căn cứ vào điểm d khoản 2 Điều 171; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52 của Bộ luật hình sự năm 2015;
- Tuyên bố bị cáo Hồ Thanh H phạm tội “Cướp giật tài sản”.
- Xử phạt bị cáo Hồ Thanh H 03 (ba) năm tù. Thời gian chấp hành hình phạt tính từ ngày 11/8/2019.
- Về án phí: Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội
Buộc bị cáo Hồ Thanh H phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Án sơ thẩm xét xử công khai báo cho bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan biết có quyền kháng cáo bản án này trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hạivắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được hoặc niêm yết bản án. ơi nh n:
| TM. - TAND t nh Thừa Thiên Huế; - Sở tư pháp t nh TT Huế; - Phòng PV 06 CA t nh TT Huế; - VKSND TP Huế; - CA thành phố Huế; - Chi cục THADS thành phố Huế; - Bị cáo; Bị hại, Người liên quan; - Lưu. | Ồ ÉT Ử SƠ T ẨM Thẩm hán - hủ tọa hiên tòa guyễn ình Tú |