vanban.org

Bản án 254/2018/HS-ST — Hình sự

TAND TP. Hải Dương, tỉnh Hải Dương Tuyên án 28/11/2018 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Triệu Việt D (tên gọi khác: Triệu Việt H) phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Xử phạt Triệu Việt D 18 (mười tám) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ 23/9/2018. Tịch thu tiêu huỷ một chiếc vam phá khoá tự chế bằng kim loại (đặc điểm vật chứng theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 22/11/2018 giữa Công an thành phố Hải Dương và Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Hả… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Triệu Việt D "Trộm cắp tài sản" - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Triệu Việt D (tên gọi khác: Triệu Việt H) phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 173 Bộ luật Hình sự; Điều 54 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ HẢI DƯƠNG
TỈNH HẢI DƯƠNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 254/2018/HS-ST
Ngày: 28/11/2018

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI DƯƠNG, TỈNH HẢI DƯƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa: Bà Quách Thị Phương Thuý.

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Lê Thị Thanh Vân, bà Nguyễn Thị Bích Thảo.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Diệu Linh- Thư ký Tòa án của Tòa án nhân dân thành phố Hải Dương, tỉnh Hải Dương.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hải Dương, tỉnh Hải Dương tham gia phiên toà: Bà Bùi Thị Thuý- Kiểm sát viên.

Ngày 28 tháng 11 năm 2018, tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Hải Dương, tỉnh Hải Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 240/2018/TLST-HS ngày 14 tháng 11 năm 2018 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 250/2018/QĐXXST-HS 16/11/2018 đối với bị cáo:

Triệu Việt D (tên gọi khác: Triệu Việt H), sinh năm 1975. ĐKHKTT: Số 89 N, phường N, thành phố H, tỉnh Hải Dương. Chỗ ở: Số 13/150 N, phường N, thành phố H, tỉnh Hải Dương. Nghề nghiệp: Không. Trình độ văn h a: 12/12. Dân tộc: Kinh. Giới tính: Nam. Tôn giáo: Không. Quốc tịch: Việt Nam. Con «ng Triệu Sơn H và bà Phạm Thị L. Có vợ là Vũ Thuý H và có một con. Tiền sự: Chưa. Tiền án: Tại Bản án số 68/2008/HSST ngày 11/4/2008, bị TAND thành phố Hải Dương xử phạt 07 năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” (ra trại ngày 21/6/2013, chưa được xoá án tích). Tại Bản án số 138/2016/HSST ngày 27/9/2016, bị TAND thành phố Hải Dương xử phạt 09 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” (ra trại ngày 10/01/2017, chưa được xoá án tích). Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 23/9/2018 đến ngày 28/9/2018 chuyển tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Hải Dương. Có mặt.

* Người bị hại: Anh Đinh Đức T, sinh năm 1968.

Trú quán: Thôn K, xã T, thành phố H, tỉnh Hải Dương. Vắng mặt (có đơn đề nghị xét xử vắng mặt).

* Người làm chứng:

- Anh Trần Thành T2, sinh năm 1974.

Trú quán: Khu 15, phường P, thành phố H, tỉnh Hải Dương. Vắng mặt.

- Anh Vũ H, sinh năm 1974.

Trú quán: Số 74 H, phường C, thành phố H, tỉnh Hải Dương. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu c trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được t m tắt như sau:

Khoảng 16 giờ 40 phút ngày 21/9/2018, Triệu Việt D điều khiển xe ô tô nhãn hiệu Kia Forte BKS 34M-2529 (xe D thuê của anh Phạm Hồng T1 ở 27 P, phường Q, thành phố H) đi vào sân Công ty bất động sản T ở Lô CC1 khu đô thị mới T, phường B, thành phố H để xem tổ chức tết Trung thu. Khi đi đến khu vực lán để xe phía sau toà nhà làm việc của công ty thì thấy có nhiều xe máy nhưng không có người trông coi; xe máy nhãn hiệu Suzuki Viva màu xanh, BKS 34K7-9626 của anh Đinh Đức T không cắm chìa khoá nhưng đèn báo điện (đèn mo) vẫn sáng nên D nảy sinh mục đích chiếm đoạt. D lấy mũ bảo hiểm treo ở xe đội vào đầu rồi nổ máy, điều khiển xe đi về nhà anh Trần Thành T2 ở đường T kéo dài. Lúc này anh T2 đang ngủ, D dong xe máy vào trong nhà và nói với anh Vũ H đang ngồi chơi ở phòng khách tầng một là gửi xe ở đây và nhờ anh H chở đến công ty T để lấy xe ô tô. Anh H điều khiển xe máy nhãn hiệu Atila BKS 34N2-1873 chở D đến công ty T, D lấy xe ô tô đi về nhà, anh H quay lại nhà anh T2. Khi anh T2 dậy thì anh H nói D gửi xe máy Suzuki Viva. Khoảng 19 giờ cùng ngày, D đến nhà anh T2 và bảo anh T2 không có xe thì lấy xe máy D gửi mà đi. Sau đó anh T2 nhờ anh Đoàn Ngọc M ở khu 2, phường C, thành phố H cầm cố chiếc xe máy Suzuki Viva được 1.000.000đ. Khoảng 22 giờ cùng ngày, anh T2 nói với D là đã cầm cố xe và đưa cho D số tiền 1.000.000đ.

Tại kết luận định giá tài sản số 67/KL-HĐĐG ngày 09/10/2018, Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự- UBND thành phố Hải Dương kết luận: Chiếc xe máy nhãn hiệu Suzuki Viva trị giá 3.600.000đ; chiếc mũ bảo hiểm trị giá 20.000đ. Tổng giá trị tài sản là 3.620.000đ.

Quá trình điều tra: Triệu Việt D khai nhận hành vi phạm tội như đã nêu trên. Cơ quan CSĐT đã trả lại anh Phạm Hồng T1 xe ô tô Kia Forte BKS 34M-2529; trả lại anh Đinh Đức T xe máy Suzuki Viva không có BKS và chiếc mũ bảo hiểm; thu giữ tại nhà D 01 vam phá khoá tự chế bằng kim loại. Anh T không yêu cầu bị cáo bồi thường về dân sự.

Tại Cáo trạng 253/CT-VKSTPHD ngày 14/11/2018, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hải Dương, tỉnh Hải Dương truy tố Triệu Việt D về tội “Trộm cắp tài sản” theo điểm g khoản 2 Điều 173 Bộ luật hình sự (BLHS).

Tại phiên tòa: Bị cáo D khai nhận hành vi phạm tội như Viện kiểm sát đã truy tố và trình bày bị cáo cho anh T2 chiếc xe máy Suzuki Viva nhưng anh T2 tưởng bị cáo gặp kh khăn nên đã mang xe máy đi cầm cố lấy tiền; anh T2, anh H không biết nguồn gốc xe máy là do bị cáo phạm tội mà c .

Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên tòa giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị: Tuyên bố Triệu Việt D phạm tội “Trộm cắp tài sản”. Áp dụng điểm g khoản 2 Điều 173, điểm h, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 54 BLHS; điểm c khoản 2 Điều 106, khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Luật phí và lệ phí; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của UBTV Quốc Hội. Xử phạt Triệu Việt D từ 21 đến 24 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ 23/9/2018. Tịch thu tiêu huỷ chiếc vam phá khoá. Buộc bị cáo phải chịu 200.000đ án phí HSST.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Toà án nhận định như sau:

Về hành vi của bị cáo: Lời nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra; phù hợp với lời khai của người bị hại, người làm chứng, vật chứng thu giữ và các tài liệu khác c trong hồ sơ vụ án. Vì vậy c đủ cơ sở kết luận: Khoảng 16 giờ 40 phút ngày 21/9/2018, tại lán để xe của Công ty bất động sản T ở Lô CC1 khu đô thị mới T, phường B, thành phố H, tỉnh Hải Dương, Triệu Việt D đã chiếm đoạt của anh Đinh Đức T chiếc xe máy nhãn hiệu Suzuki Viva màu xanh, BKS 34K7-9626 trị giá 3.600.000đ và chiếc mũ bảo hiểm trị giá 20.000đ.

Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, không chỉ xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ mà còn gây ảnh hưởng xấu đến trật tự trị an tại địa phương. Bị cáo là người c năng lực TNHS, nhận thức rõ hành vi của mình là vi phạm pháp luật nhưng vì muốn c tiền tiêu sài mà không phải lao động nên vẫn cố ý thực hiện. Hành vi của bị cáo được thực hiện bằng việc lén lút, lợi dụng sơ hở của chủ sở hữu trong việc trông coi, quản lý tài sản để chiếm đoạt tài sản của họ. Tổng giá trị tài sản bị cáo chiếm đoạt là 3.620.000đ nhưng tại Bản án số 138/2016/HSST ngày 27/9/2016, bị cáo bị TAND thành phố Hải Dương xử phạt 09 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” và thuộc T2 hợp tái phạm, chưa được xoá án tích, nay lại phạm tội do cố ý nên hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại điểm g khoản 2 Điều 173 BLHS. Vì vậy Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hải Dương truy tố đối với bị cáo về tội danh, điều luật áp dụng là c căn cứ, đúng pháp luật.

Về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ TNHS và xử lý đối với bị cáo: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng TNHS. Sau khi phạm tội, bị cáo tự nguyện đến Công an thành phố Hải Dương để đầu thú; bố mẹ đẻ của bị cáo được Nhà nước tặng thưởng Huy chương; quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo là các tình tiết giảm nhẹ TNHS quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 BLHS. Tài sản bị chiếm đoạt c tổng trị giá 3.620.000đ nhưng bị cáo bị xét xử theo khoản 2 Điều 173 BLHS nên thuộc trường hợp “gây thiệt hại không lớn” là tình tiết giảm nhẹ TNHS quy định tại điểm h khoản 1 Điều 51 BLHS. Xét bị cáo là người c tiền án nên cần áp dụng hình phạt tù c thời hạn đối với bị cáo để bảo đảm tác dụng giáo dục riêng và đấu tranh phòng ngừa chung c hiệu quả. Bị cáo c nhiều tình tiết giảm nhẹ nên HĐXX áp dụng quy định tại Điều 54 BLHS, cho bị cáo được hưởng hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt.

Về hình phạt bổ sung: Bị cáo không c tài sản, không c nghề nghiệp nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

Về trách nhiệm dân sự: Cơ quan điều tra đã trả lại anh T tài sản bị chiếm đoạt là chiếc xe máy Suzuki Viva màu xanh và chiếc mũ bảo hiểm; anh T tự xin cấp lại BKS của xe, sửa ổ khoá xe và tự nguyện không yêu cầu bị cáo phải bồi thường nên HĐXX không xem xét.

Về vật chứng: Anh T1 không biết bị cáo sử dụng chiếc xe ô tô Kia Forte BKS 34M-2529 làm phương tiện phạm tội nên Cơ quan CSĐT trả lại xe cho anh T1 là phù hợp. Chiếc vam phá khoá thu giữ của bị cáo không có giá trị kinh tế nên cần tịch thu tiêu huỷ.

Về án phí: Bị cáo bị kết án nên phải chịu án phí theo luật định.

Về tố tụng: Các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan và người tiến hành tố tụng trong quá trình điều tra, truy tố, chuẩn bị xét xử vụ án đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự nên đều hợp pháp.

Các anh Trần Thành T2, Vũ H là những người cho bị cáo gửi xe máy, nhờ người khác đem xe máy đi cầm cố và chở bị cáo đi lấy xe ô tô nhưng không biết việc phạm tội của bị cáo nên đều không bị xử lý là phù hợp. Đoàn Ngọc M là người được anh T2 nhờ mang xe máy đi cầm cố hiện vắng mặt tại địa phương. Cơ quan CSĐT tiếp tục xác minh và xử lý sau.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ điểm g khoản 2 Điều 173; điểm h, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 54 Bộ luật hình sự. Điểm c khoản 2 Điều 106; khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự. Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của UBTV Quốc Hội.

1. Tuyên bố: Bị cáo Triệu Việt D (tên gọi khác: Triệu Việt H) phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

2. Xử phạt Triệu Việt D 18 (mười tám) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ 23/9/2018.

3. Tịch thu tiêu huỷ một chiếc vam phá khoá tự chế bằng kim loại (đặc điểm vật chứng theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 22/11/2018 giữa Công an thành phố Hải Dương và Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Hải Dương).

4. Bị cáo Triệu Việt D phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.

5. Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (28/11/2018); người bị hại được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận hoặc niêm yết bản án./.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ