vanban.org

Bản án 254/2018/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

1/ Về quan hệ hôn nhân: Chị Thái Thị Ng được ly hôn với anh Nguyễn Tấn Th.

2/ Về con chung: Chị Thái Thị Ng được tiếp tục nuôi con tên Nguyễn Thái Ngọc V, sinh ngày 13/9/2009. Anh Th không cấp dưỡng nuôi con vì chị Ng không yêu cầu. Vì quyền lợi của trẻ, anh Th được đến thăm nom chăm sóc con chung không ai có quyền ngăn cản. Khi cần thiết, các đương sự có quyền yêu cầu xin… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Thái Thị Ng - Nguyễn Tấn Th"
  • Tòa quyết gì? 1/ Về quan hệ hôn nhân: Chị Thái Thị Ng được ly hôn với anh Nguyễn Tấn Th.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN ĐỨC HÒA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH LONG AN
Bản án số: 254/2018/HNGĐ-ST
Ngày: 29 -10-2018
V/v Ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC HÒA, TỈNH LONG AN

-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – chủ Tọa phiên tòa : Bà Nguyễn Thị Mộng Thúy

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Nguyễn Văn Ghên

2. Ông Nguyễn Chí Lin

-Thư ký phiên tòa: Bà Kiều Thị Tùng Khương – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Đức Hòa, Tỉnh Long An.

Trong ngày 29 tháng 9 năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đức Hòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số: 971/2018/TLST- HNGĐ ngày 28 tháng 8 năm 2018 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 312/2018/QĐXX- ST ngày 02 tháng 10 năm 2018 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Chị Thái Thị Ng, sinh năm 1985 (vắng mặt)

Địa chỉ: ấp Tân Điểm, xã Tân Xuân, huyện Ba Tri, tỉnh Bến Tre.

2.Bị đơn: Anh Nguyễn Tấn Th, sinh năm 1973 (vắng mặt)

Địa chỉ: ấp 1A, xã Hựu Thạnh, huyện Đức Hòa, tỉnh Long An.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện xin ly hôn đề ngày 21 tháng 8 năm 2018 và trong những lời khai tiếp theo tại Tòa án nguyên đơn chị Thái Thị Ng trình bày:

Về hôn nhân: chị và anh Nguyễn Tấn Th tự nguyện kết hôn năm 2009. Hai người có đến UBND xã Hựu Thạnh, huyện Đức Hòa, tỉnh Long An đăng ký kết hôn theo quy định Luật Hôn nhân và gia đình vào ngày 08/3/2010. Cuộc sống chung vợ chồng thời gian đầu hòa thuận hạnh phúc đến năm 2011 thì phát sinh mâu thuẫn và ly thân nhau cho đến nay. Nguyên nhân mâu thuẫn do tính tình không hợp nhau, bất đồng quan điểm trong cuộc sống, thường xuyên cãi vã nhau. Nay chị thấy tình nghĩa vợ chồng không thể hàn gắn nên chị xin được ly hôn với anh Th.

Về con chung: có 01 con chung tên Nguyễn Thái Ngọc V sinh ngày 13/9/2010 do chị đang nuôi, khi ly hôn chị xin tiếp tục nuôi con không yêu cầu anh Th cấp dưỡng nuôi con.

Tài sản chung: không có

Nợ chung: không có

Đối với bị đơn: anh Nguyễn Tấn Th trình bày là anh thống nhất tình trạng hôn nhân giữa anh và chị Thái Thị Ng như chị Nguyên nêu. Nay chị Ng đòi ly hôn với anh, anh đồng ý ly hôn. Về con chung: anh xác định giữa anh và chị Ng có một con chung như chị Ng nêu là đúng đồng ý để chị Ng tiếp tục nuôi, anh không đồng ý cấp dưỡng. Tài sản chung: không có. Nợ chung: không có.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Quan hệ pháp luật tranh chấp là hôn nhân gia đình, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân huyện Đức Hoà theo quy định tại Điều 35 Bộ luật tố tụng dân sự. Các đương sự trong vụ án có yêu cầu xét xử vắng mặt nên Hội đồng xét xử căn cứ Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự tiến hành xét xử vắng mặt anh Th và chị Ng.

Về hôn nhân: Xét thấy chị Thái Thị Ng và anh Nguyễn Tấn Th hai người trước khi kết hôn có tìm hiểu nhau thời gian một ngắn khoảng 05 tháng và tiến đến hôn nhân vào năm 2009 có đăng ký kết hôn tại UBND xã Hựu Thạnh, huyện Đức Hòa, tỉnh Long An vào ngày 08/3/2010 nên có căn cứ xác định hôn nhân của anh chị là phù hợp pháp luật theo quy định Điều 9 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.

Thấy rằng từ khi chung sống, hai người chỉ hạnh phúc thời gian đầu về sau cuộc sống chung không hợp nhau, cãi vã thường xuyên về quan điểm sống nên hai người đã ly thân từ năm 2011 đến nay. Hai người không có thiện chí hàn gắn. Do đó Hội đồng xét xử thấy rằng chị Ng và anh Th hai người đã ly thân từ năm 2011 đến nay cả hai không có thiện chí hàn gắn, mâu thuẫn vợ chồng đã đến mức trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên cho chị Ng được ly hôn của anh Th theo quy định Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.

Về con chung: chị Ng và anh Th có một con chung tên Nguyễn Thái Ngọc V sinh ngày 13/9/2009 hiện đang sống với chị Ng. Khi ly hôn chị Ng xin nuôi con không yêu cầu anh Th cấp dưỡng. Xét thấy cháu Nguyễn Thái Ngọc V từ khi ly thân do chị Ng nuôi tốt và cháu V có nguyện vọng sống với chị Ng nên Hội đồng xét xử để chị Ng tiếp tục nuôi con là phù hợp theo quy định Điều 81 Luật hôn nhân gia đình nghĩ nên chấp nhận yêu cầu nuôi con của chị Ng. Về yêu cầu cấp dưỡng: do chị Ng không yêu cầu nên không đề cập xem xét.

Về tài sản chung: Chị Ng xác nhận không có tài sản chung với anh Thành nên không đề cập xem xét.

Về nợ chung: Chị Ng thống nhất khai không có yêu cầu Tòa án giải quyết nên không đề cập xem xét.

Về án phí: chị Ng là nguyên đơn trong vụ án phải chịu án phí Hôn nhân gia đình.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ Điều 35, Điều, Điều 227, Điều 271, Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự; Căn cứ Điều 9, Điều 56, Điều 58, Điều 59, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; Căn cứ Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Tuyên xử:

1/ Về quan hệ hôn nhân: Chị Thái Thị Ng được ly hôn với anh Nguyễn Tấn Th.

2/ Về con chung: Chị Thái Thị Ng được tiếp tục nuôi con tên Nguyễn Thái Ngọc V, sinh ngày 13/9/2009. Anh Th không cấp dưỡng nuôi con vì chị Ng không yêu cầu. Vì quyền lợi của trẻ, anh Th được đến thăm nom chăm sóc con chung không ai có quyền ngăn cản. Khi cần thiết, các đương sự có quyền yêu cầu xin thay đổi việc nuôi con và yêu cầu cấp dưỡng nuôi con.

3/ Về án phí: chị Ng phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm sung ngân sách Nhà nước, được khấu trừ số tiền đã nộp tạm ứng án phí 300.000 đồng mà chị Ng đã nộp theo biên lai số 3135 ngày 27/8/2018 tại Chi cục thi hành án huyện Đức Hòa, tỉnh Long An.

Đương sự có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết hợp lệ.

“Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự”./.

Cỡ chữ