vanban.org

Bản án 254/2017/HSST — Hình sự

TAND TP. Hồ Chí Minh Tuyên án 25/07/2017 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Ngọc D phạm tội “Cướp giật tài sản”.

Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Ngọc D 03 (ba) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 04/02/2017. Tịch thu sung quỹ Nhà nước: 01 (một) chiếc xe hai bánh gắn máy; Nhãn hiệu: Trung Quốc; Loại xe: 02 bánh; Số loại: Dream; BS: 50AA-2060; SK: Không có; SM: LC150FMG-01851064 (ghi theo số cà). (Theo Biên bản giao nhận ta…

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Ngọc D - phạm tội cướp giật tài sản (điều 136 Bộ luật hình sự năm 1999)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nguyễn Ngọc D phạm tội “Cướp giật tài sản”.
  • Căn cứ chính? Điều 46 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Bản án số: 254/2017/HSST
Ngày: 25/7/2017

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Quách Thanh Bình

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Võ Thị Nam

2. Ông Nguyễn Văn Long

Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Tuyết Nhung - Cán bộ Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Trần Thanh Phú - Kiểm sát viên.

Ngày 25 tháng 7 năm 2017, tại trụ sở Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 298/2017/HSST ngày 01/6/2017 đối với bị cáo:

Nguyễn Ngọc D; giới tính: Nam; sinh năm 1990 tại Thành phố Hồ Chí Minh; trú tại: đường TQK, phường T, Quận P, Thành phố Hồ Chí Minh; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; trình độ học vấn: 3/12; nghề nghiệp: Không; con ông Nguyễn Ngọc H (chết) và bà Lê Thị T; hoàn cảnh gia đình: chưa có vợ, con; tiền án, tiền sự: Không;

Tạm giam: ngày 04/02/2017 (Có mặt).

Người bị hại:

Bà Kassidy Nicole C, sinh năm 1993

Quốc tịch: Hoa Kỳ

Địa chỉ: đường C, phường N, Quận P, Thành phố Hồ Chí Minh (Vắng mặt).

NHẬN THẤY:

Bị cáo Nguyễn Ngọc D bị Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh truy tố về hành vi phạm tội như sau:

Khoảng 13 giờ 55 phút ngày 04/02/2017, Nguyễn Ngọc D điều khiển xe gắn máy biển số 50AA-2060, đi đến trước số 02 đường TQK, phường T, Quận P, phát hiện chị Kassidy Nicole C đang cầm 01 điện thoại di động Iphone 6S trên tay, nên nảy sinh ý định cướp giật. D chạy xe lên lề đường, áp sát chị Kassidy Nicole C và dùng tay trái giật chiếc điện thoại rồi bỏ chạy. Lúc đó, anh Nguyễn Thanh D (dân quân thường trực phường T) đang chạy xe trên đường chứng kiến sự việc trên liền điều khiển xe đuổi theo thì nhận diện được D (tên thường gọi là Xí Được, là người sống chung khu phố), nên không tiếp tục truy đuổi mà quay lại hiện trường, đưa chị Kassidy Nicole C đến công an phường T, Quận P trình báo sự việc. Qua truy xét, cảnh sát khu vực đã bắt D, thu giữ chiếc điện thoại trên trong túi quần của D, đưa về trụ sở thực hiện Lệnh bắt khẩn cấp của Công an Quận P. Trong quá trình điều tra, D khai nhận hành vi phạm tội như đã nêu trên. Vật chứng:

- 01 điện thoại di động Iphone 6S màu hồng 64G đã thu hồi, trả cho người bị hại.

- 01 xe hai bánh gắn máy Dream biển số 50AA-2060. Theo kết quả giám định của Phòng kỹ thuật hình sự Công an Thành phố Hồ Chí Minh, chiếc xe trên mang biển số giả, có số máy LC150FMG-01851064, không có số khung, nên không tìm thấy dữ liệu quản lý. Qua điều tra chiếc xe trên do ông Nguyễn Ngọc H (cha ruột của D) mua đã lâu, không nhớ biển số. Năm 2016, ông H kêu D đem xe đi cầm, nhưng không có tiền chuộc nên nghĩ đã mất xe, chứ không biết D đã chuộc lại xe, mượn biển số (xe Chaly của bà Lê Thị H1, là người hàng xóm) gắn vào chiếc xe trên để sử dụng. Theo Kết luận định giá số 017/KLĐGTS ngày 14/02/2017 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự của Ủy ban nhân dân Quận P xác định chiếc điện thoại di động Iphone 6S màu hồng 64G, trị giá 5.000.000 đồng. Tại Bản cáo trạng số 237/CT-VKS-P2 ngày 29/5/2017 Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh đã truy tố bị cáo D về tội “Cướp giật tài sản” theo điểm d khoản 2 Điều 136 của Bộ luật hình sự. Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh trình bày lời luận tội và đề nghị áp dụng điểm p khoản 1 Điều 46, điểm d khoản 2 Điều 136 của Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo D từ 03 năm đến 04 năm tù và xử lý vật chứng theo quy định của pháp luật. Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của kiểm sát viên, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác.

XÉT THẤY:

Tại phiên tòa, bị cáo D thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội như bản cáo trạng đã nêu và khai nhận: Khoảng 13 giờ 55 phút ngày 04/02/2017, tại số 02 đường TQK, phường T, Quận P, bị cáo điều khiển xe gắn máy biển số 50AA-2060 áp sát chị Kassidy Nicole C rồi dùng tay trái giật điện thoại di động Iphone 6S màu hồng của bị hại rồi bỏ chạy. Anh Nguyễn Thanh D là dân quân thường trực phường T chứng kiến sự việc và nhận diện được bị cáo nên đã trình báo công an bắt giữ bị cáo D, đưa về trụ sở làm việc.

Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của người bị hại, người làm chứng và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, gây ảnh hưởng tới trật tự an toàn xã hội. Bị cáo sử dụng xe gắn máy làm phương tiện cướp giật tài sản đã cố ý xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác, có thể gây nguy hiểm cho người bị hại và những người tham gia giao thông khác trong lúc tẩu thoát. Do đó, Hội đồng xét xử xét thấy đã có đủ cơ sở kết luận bị cáo D phạm tội “Cướp giật tài sản” theo quy định tại điểm d khoản 2 Điều 136 của Bộ luật hình sự.

Tuy nhiên, xét tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa hôm nay bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, nhân thân tốt, chưa có tiền án tiền sự. Do đó, áp dụng điểm p khoản 1, khoản 2 Điều 46 của Bộ luật hình sự để xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.

Về trách nhiệm dân sự: Chị Kassidy Nicole C đã nhận lại tài sản nên không yêu cầu bồi thường, nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về xử lý vật chứng:

- 01 điện thoại di động Iphone 6S màu hồng 64G đã trả cho bị hại theo Biên bản trao trả tài sản ngày 04/02/2017, nên Hội đồng xét xử không xem xét.

- 01 xe hai bánh gắn máy Dream biển số 50AA-2060; số máy: LC150FMG-01851064. Chiếc xe trên là phương tiện phạm tội, mang biển số giả, không có số khung, không xác định được chủ sở hữu là vật cấm lưu hành. Do đó, căn cứ điểm a khoản 1 Điều 41 của Bộ luật hình sự; điểm a khoản 2 Điều 76 của Bộ luật tố tụng hình sự, cần tịch thu chiếc xe trên sung quỹ Nhà nước.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 đồng.

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Ngọc D phạm tội “Cướp giật tài sản”.

Áp dụng Điều 45; điểm p khoản 1, khoản 2 Điều 46; điểm d khoản 2 Điều 136 của Bộ luật hình sự.

Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Ngọc D 03 (ba) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 04/02/2017.

Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 41 của Bộ luật hình sự; điểm a khoản 2 Điều 76 của Bộ luật Tố tụng hình sự:

Tịch thu sung quỹ Nhà nước: 01 (một) chiếc xe hai bánh gắn máy; Nhãn hiệu: Trung Quốc; Loại xe: 02 bánh; Số loại: Dream; BS: 50AA-2060; SK: Không có; SM: LC150FMG-01851064 (ghi theo số cà). (Theo Biên bản giao nhận tang tài vật số 260/17 ngày 06/6/2017 của Cục Thi hành án dân sự Thành phố Hồ Chí Minh). Áp dụng Điều 98; khoản 2 Điều 99 của Bộ luật tố tụng hình sự; Điểm a Khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 13/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; Bị cáo phải chịu 200.000 (hai trăm ngàn) đồng án phí hình sự sơ thẩm. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự. Áp dụng Điều 231; Điều 234 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Bị cáo được quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án. Người bị hại vắng mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày được tống đạt hợp lệ bản án.

Cỡ chữ