vanban.org

Bản án 254/2017/DS-ST — Tranh chấp hợp đồng tín dụng

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

1/ Buộc bị đơn là bà Phan Thị Phương L phải trả Ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam Thịnh Vượng số tiền là 34.145.000 đồng theo hợp đồng tín dụng số 20140920-100001-0009 ngày 21/9/2014, trong đó: Nợ gốc là 25.952.070 đồng; Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng tín dụng — án dân sự — "NGÂN HÀNG TMCP VN TV - PHAN THỊ PHƯƠNG L"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Quyết định số 1627/2001/QĐ-NHNN Về việc ban hành Quy chế cho…; Thông tư số 12/2010/TT-NHNN Hướng dẫn tổ chức tín dụng cho v…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN NHÀ BÈ
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 254/2017/DS-ST
Ngày: 28-9-2017
V/v tranh chấp hợp đồng tín dụng

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NHÀ BÈ - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Ngọc Long

Các hội thẩm nhân dân:

1. Bà Phạm Kim Tuyến;

2. Ông Nguyễn Quốc Xuân.

- Thư ký phiên tòa: Bà Hoàng Thị Hoài – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Nhà Bè, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Nhà Bè tham gia phiên tòa:

Bà Nguyễn Thị Dung - Kiểm sát viên

Trong ngày 28 tháng 9 năm 2017 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Nhà Bè, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 79/2017/TLST-DS ngày 18 tháng 4 năm 2017 về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 101/2017/QĐXX-ST ngày 08 tháng 8 năm 2017 và Quyết định hoãn phiên tòa số 78/2017/QĐST-DS ngày 05 tháng 9 năm 2017 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam Thịnh Vượng có địa chỉ trụ sở chính tại Tầng 1-7 Tòa nhà Thủ Đô, Số 72 Phố Trần Hưng Đạo, Phường Trần Hưng Đạo, quận Hoàn Kiếm, Thành phố Hà Nội.

Ông Lê Hồng Q, sinh năm 1994, trú tại lầu 5, Số 144 đường Cộng Hòa, Phường 12, quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh là người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn (Văn bản ủy quyền ngày 16 tháng 3 năm 2017).

(Có mặt)

Bị đơn: Bà Phan Thị Phương L, sinh năm 1989, trú tại số 8/4 Tổ 5, Khu phố 5, thị trấn Nhà Bè, huyện Nhà Bè, Thành phố Hồ Chí Minh.

(Vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong Đơn khởi kiện ngày 16 tháng 3 năm 2017, các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa sơ thẩm, người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn là ông Lê Hồng Q trình bày:

Ngày 21/9/2014, bà Phan Thị Phương L có vay của Ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam Thịnh Vượng số tiền 34.991.599 đồng theo hợp đồng tín dụng số 20140920-100001-0009. Lãi suất là 4.59%/tháng. Mục đích vay để tiêu dùng cá nhân. Theo thỏa thuận, bà L có trách nhiệm trả số tiền là 54.145.000 đồng (gồm cả gốc và lãi), trả trong vòng 19 tháng theo phương thức:

- 18 tháng đầu mỗi tháng trả 2.800.000 đồng;

- Tháng cuối cùng trả 3.745.000 đồng.

- Trả tiền hàng tháng vào ngày thứ 01, bắt đầu từ ngày 01/11/2014.

Thực hiện hợp đồng, bà L đã nhận đủ số tiền là 34.991.599 đồng và đã trả được cho Ngân hàng 04 lần với số tiền là 20.00.000 đồng.

Tuy nhiên, kể từ ngày 31/8/2016 đến nay, bà L không trả tiền cho Ngân hàng, do vậy Ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam Thịnh Vượng khởi kiện và yêu cầu cá nhân bà L phải trả số tiền còn nợ là 34.145.000 đồng (Bao gồm cả nợ gốc là 25.952.070 đồng và lãi tính đến ngày 28/9/2017 là 8.192.930 đồng). Trả làm một lần ngay sau khi án có hiệu lực pháp luật.

Tại phiên tòa, người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện như trên.

Ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam Thịnh Vượng không yêu cầu tính lãi phát sinh kể từ ngày 28/9/2017 đến ngày án có hiệu lực pháp luật trên số tiền nợ là 34.145.000 đồng.

Nếu đến ngày án có hiệu lực pháp luật mà bà L không thanh toán thì bà L còn phải phải trả lãi đối với số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả theo thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng.

Trong suốt quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tống đạt hợp lệ thông báo thụ lý vụ án và các văn bản tố tụng cho bà Phan Thị Phương L nhưng bà L đều không đến Tòa án để làm việc hoặc có văn bản phản hồi ý kiến gửi cho Tòa án.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Nhà Bè, Thành phố Hồ Chí Minh phát biểu ý kiến nhƣ sau:

Việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán và của Hội đồng xét xử kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử vào nghị án đã đảm bảo các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng thì chấp hành đúng các quy định của pháp luật, Tòa án đã tống đạt hợp lệ các vản bản tố tụng. Việc đưa vụ án ra xét xử đúng quy định của pháp luật.

Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về tố tụng và thẩm quyền giải quyết vụ án:

Ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam Thịnh Vượng khởi kiện yêu cầu bà Phan Thị Phương L phải thanh toán cho Ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam Thịnh Vượng số tiền 34.145.000 đồng theo Hợp đồng tín dụng số 20140920-100001-0009 ngày 21/9/2014. Đây là tranh chấp hợp đồng dân sự về tín dụng. Bà Phan Thị Phương L cư trú tại huyện Nhà Bè nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân huyện Nhà Bè, Thành phố Hồ Chí Minh theo quy định tại khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Trong quá trình giải quyết vụ án, bị đơn là bà Phan Thị Phương L mặc dù đã được Tòa án nhân dân huyện Nhà Bè tống đạt hợp lệ thông báo thụ lý và các văn bản tố tụng để tiếp cận công khai thu thập chứng cứ và hòa giải cũng như tham gia tố tụng tại phiên tòa sơ thẩm nhưng bị đơn vẫn vắng mặt không rõ lý do nên Tòa án vẫn tiến hành xét xử vụ án theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự.

Về yêu cầu của các đƣơng sự:

Xét Văn bản Đề nghị vay vốn kiêm hợp đồng tín dụng số 20140920-100001-0009 ngày 21/9/2014 và Bảng sao kê chứng từ giải ngân có đủ cơ sở kết luận bà Phan Thị Phương L có vay của Ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam Thịnh Vượng số tiền 54.145.000 đồng. Lãi suất cho vay là 4.59%/tháng phù hợp quy định tại Điều 91 của Luật các tổ chức tín dụng năm 2010 và Thông tư 12/2010/TT-NHNN ngày 14/4/2010 của Ngân hàng Nhà nước cho phép các tổ chức tín dụng cho vay bằng đồng Việt Nam đối với khách hàng theo lãi suất thỏa thuận và quy định lãi suất quá hạn theo Điều 11 Quy chế cho vay ban hành kèm theo Quyết định số 1627/2001/QĐ-NHNN ngày 31/12/2001.

Như vậy, tính đến ngày 28/9/2017 bà Phan Thị Phương L còn nợ nguyên đơn số tiền là 34.145.000 đồng.

Căn cứ vào các chứng cứ có trong hồ sơ vụ án có cơ sở xác định bị đơn bà Phan Thị Phương L vi phạm nghĩa vụ thanh toán theo hợp đồng tín dụng số 20140920-100001-0009 ngày 21/9/2014 là vi phạm nghĩa vụ bên vay của hợp đồng tín dụng, Điều 95 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010 quy định “Tổ chức tín dụng có quyền chấm dứt việc cấp tín dụng, thu hồi nợ trước hạn khi phát hiện khách hàng cung cấp thông tin sai sự thật, vi phạm các quy định trong hợp đồng cấp tín dụng” nên Ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam Thịnh Vượng yêu cầu bà L phải trả một lần ngay khi án có hiệu lực pháp luật tổng cộng số tiền là 34.145.000 đồng (Bao gồm cả nợ gốc là 25.952.070 đồng và lãi tính đến ngày 28/9/2017 là 8.192.930 đồng) là có cơ sở nên Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Ghi nhận việc nguyên đơn không yêu cầu tính lãi phát sinh từ ngày 28/9/2017 đến ngày án có hiệu lực pháp luật trên số tiền nợ là 34.145.000 đồng.

Kể từ ngày án có hiệu lực pháp luật mà bà L không thanh toán khoản tiền nợ nêu trên thì bà L tiếp tục phải trả lãi đối với số tiền chậm trả theo mức lãi suất mà hai bên đã thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng đã ký kết.

Về án phí: Do yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhận nên bị đơn phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự;

Căn cứ Luật Thi hành án dân sự;

Căn cứ Luật các tổ chức tín dụng năm 2010;

Căn cứ Điều 11 Quy chế cho vay ban hành kèm theo Quyết định số 1627/2001/QĐ-NHNN ngày 31/12/2001;

Căn cứ Pháp lệnh án phí, lệ phí Tòa án;

Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án ngày 30/12/2016;

Căn cứ Thông tư 12/2010/TT-NHNN ngày 14/4/2010 của Ngân hàng Nhà nước.

Tuyên xử:

Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

1/ Buộc bị đơn là bà Phan Thị Phương L phải trả Ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam Thịnh Vượng số tiền là 34.145.000 đồng theo hợp đồng tín dụng số 20140920-100001-0009 ngày 21/9/2014, trong đó:

- Nợ gốc là 25.952.070 đồng;

- Lãi tính đến ngày 28/9/2017 là 8.192.930 đồng.

Trả một lần ngay khi án có hiệu lực pháp luật.

Ghi nhận việc nguyên đơn không yêu cầu tính lãi phát sinh từ ngày 28/9/2017 đến ngày án có hiệu lực pháp luật trên số tiền nợ là 34.145.000 đồng.

Kể từ ngày án có hiệu lực pháp luật mà bà L không thanh toán khoản tiền nợ nêu trên thì bà L tiếp tục phải trả lãi đối với số tiền chậm trả theo mức lãi suất mà hai bên đã thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng đã ký kết.

2/ Về án phí:

- Bà Phan Thị Phương L phải chịu án phí là 1.707.250 đồng.

- Trả lại cho nguyên đơn là Ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam Thịnh Vượng toàn bộ số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 853.625 đồng theo Biên lai thu số 0007642 ngày 18 tháng 4 năm 2017 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Nhà Bè, Thành phố Hồ Chí Minh.

3/ Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.

4/ Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ